Liên Bang Nga cũng giấu nhẹm Shahed 136 là hàng nóng của Iran và nhận bừa là do mình chế tạo. Xạo vừa phải chớ. Trước khi phái đoàn Nga qua Iran mua đồ chơi vào tháng Sáu và Bảy thì đâu thấy Nga xài loại drone này.
Dưới đây là cách hóa giải năm trong những huyền thoại này bằng chứng cớ khoa học và thực tế. nói "Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đang được thể
Người dẫn đường cho chuyến đi thú vị này là tác giả Robert Sapolsky, giáo sư thần kinh và giải phẫu thần kinh của Đại học Stanford (Mỹ), với bài viết đăng trên tạp chí Foreign Affairs số tháng 3-4/2019 mang tựa đề “This Is Your Brain On Nationalism”. Phần dưới đây là bài
Tại sao phân biệt chủng tộc rất khó để xác định và thậm chí khó hiểu hơn. Alana Lentin. Ngày nay, những gì có thể được định nghĩa là phân biệt chủng tộc và những gì không thể trở thành một vấn đề tranh luận. Mọi kẻ phân biệt chủng tộc bị bắt trong hành động
3. Phạm vi nghiên cứu: Ở học phần Chủ nghĩa xã hội khoa học có rất nhiều đề tài, tiểu luận chỉ tập trung. nghiên cứu về vấn đề Sự vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân tộc. và giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Liên Xô là nhà nước đầu tiên sử dụng huy hiệu học xã hội chủ nghĩa, bắt đầu từ sự sáng tạo của mình vào năm 1922, phong cách này trở nên phổ biến hơn sau khi Thế chiến II kết thúc với nhiều quốc gia cộng sản khác đã được thành lập. Ngay cả một số quốc gia phi
QCIF7Ek. Cậu ta chết chắc. Sai lầm đầu tiên của cậu là đi kiếm ăn một mình. Có lẽ mọi chuyện đã khác nếu cậu đi cùng ai đó. Sai lầm thứ hai, lớn hơn nhiều, là cậu đi quá xa khỏi thung lũng, về phía khu vực rừng cây rậm rạp. Đây là chỗ mà cậu có nguy cơ đụng độ “kẻ khác”, những kẻ sống phía triền núi bên trên thung lũng. Đầu tiên, hai “kẻ khác” xuất hiện. Cậu cố gắng cầm cự đánh trả. Nhưng bốn “kẻ khác” mò ra từ phía sau. Cậu nhanh chóng bị bao vây, hoàn toàn thất thế. Sau trận chiến không cân sức, chúng để mặc cậu ở đó, chảy máu đến chết. Một lát sau, chúng quay trở lại, phân xác cậu. Có khoảng 20 vụ sát hại như vậy diễn ra. Cho tới khi không còn ai ở đó, và những “kẻ khác” chiếm lĩnh toàn bộ thung lũng. Những nhân vật chính trong câu chuyện đẫm máu ở trên không phải là loài người. Nhà linh trưởng học primatologist John Mitani đã kể lại khi quan sát các con tinh tinh trong công viên quốc gia Uganda. Trong vòng một thập kỷ, các con tinh tinh đực trong một bầy đã sát hại một cách có hệ thống toàn bộ những con đực của các bầy đàn gần đó, bắt cóc những con cái, và mở rộng địa bàn của mình. Các hành động tấn công tương tự cũng diễn ra trong cộng đồng tinh tinh ở những nơi khác. Một nghiên cứu vào năm 2014 chỉ ra xác suất tinh tinh giết con khác không cùng đàn với mình cao hơn 30 lần so với xác suất chúng giết những con trong cùng bầy. Trung bình sẽ có tám con tinh tinh đực quây lấy để “xử” nạn nhân. *** Trên đây là phần mở đầu trong hành trình đi vào thế giới bên trong của con người, tìm cách lý giải ngọn nguồn cơ chế phân chia “ta và địch” của nhân loại, và gợi ý để chúng ta, bằng cách nào đó, thật sự có thể tách mình ra khỏi thế giới động vật, hành xử văn minh như cách loài người vẫn luôn tự hào về bản thân. Người dẫn đường cho chuyến đi thú vị này là tác giả Robert Sapolsky, giáo sư thần kinh và giải phẫu thần kinh của Đại học Stanford Mỹ, với bài viết đăng trên tạp chí Foreign Affairs số tháng 3-4/2019 mang tựa đề “This Is Your Brain On Nationalism”. Phần dưới đây là bài lược dịch từ bài gốc tiếng Anh. Bài lược dịch không nhất thiết tuân theo đúng cấu trúc của bài gốc, có thể lược bỏ một số phần và diễn đạt lại ý của một số phần khác sao cho dễ hiểu trong tiếng Việt. *** Tinh tinh. Ảnh ZOOM DOSSO/AFP/Getty Images. Từ câu chuyện thực tế về những con tinh tinh bạo lực trên, liệu có ngạc nhiên lắm không khi con người, vốn chia sẻ 98% DNA với tinh tinh, cũng phân thế giới ra thành “bọn tao” và “chúng nó”, rồi từ đó lao vào chém giết nhau giống như vậy? Tất nhiên, mọi so sánh đều khập khiễng. Khỉ Bonobo hay còn được gọi là “tinh tinh lùn” cũng chia sẻ 98% DNA với nhân loại, nhưng chưa ai từng nghe thấy gì về những hành động hiếu chiến đẫm máu của chúng. Ở khía cạnh khác, con người “vượt trội” hơn các họ hàng của mình ở chỗ, không chỉ giết nhau để chiếm thung lũng, chúng ta còn sẵn sàng sát hại nhau vì những thứ mơ hồ trừu tượng như học thuyết, tôn giáo hay sức mạnh kinh tế. Tuy nhiên, lại cũng chỉ có con người có khả năng nhận thức và thay đổi hoàn toàn hành vi của mình mà không một loài nào sánh được. Thụy Điển là một ví dụ sinh động. Vào thế kỷ 17, những người Thụy Điển càn quét giết hại khắp châu Âu, tạo nên một đế chế rộng lớn hùng mạnh. Ngày nay, cái tên “Thụy Điển” lại gần như một tính từ, thậm chí là biểu tượng cho hòa bình, nhân văn và tiến bộ. Những thời khắc tươi sáng và đen tối nhất của nhân loại đều là kết quả của một hệ thống tổng hợp mọi thứ, từ những hoạt động thần kinh ở giây vừa rồi đến quá trình tiến hóa cả triệu năm qua thêm vào đó là tập hợp những nhân tố xã hội phức tạp. Để hiểu được cơ chế hình thành các đặc tính những nhóm người, bao gồm sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc – một trong những dạng thức có thể là nguy hiểm nhất của “thành kiến bè phái” in-group bias – chúng ta cần phải nắm rõ những cơ chế hoạt động sinh học và nhận thức tạo ra chúng. Người ta sẽ khó nhìn thấy ánh sáng lạc quan khi nghiên cứu những phân tích này. Bộ não con người, chỉ trong tích tắc, phân biệt ngay ai là “phe ta” và ai là “phe khác”, đồng thời khuyến khích chúng ta đối xử tốt với “phe mình” và ngược lại, căng mình sẵn sàng đối đầu với “phe kia”. Những thành kiến này diễn ra hoàn toàn tự động, trong tiềm thức, và xuất hiện từ rất sớm trong quá trình phát triển của mỗi người. Điều an ủi là những suy nghĩ thiên lệch này đều ngẫu nhiên và thường dễ thay đổi. Hôm nay họ là “phe địch”, ngày mai có thể lại trở thành “phe ta”. Con người có thể kiểm soát bản năng của mình, xây dựng một xã hội khuyến khích cạnh tranh hòa bình thay vì phải lao vào những cuộc chiến máu me. Nhưng trong trường hợp đó, có một sự thật luôn cần phải ghi nhớ, rằng cơ chế kích hoạt tâm lý bầy đàn, bè phái vẫn luôn luôn tồn tại. Tâm lý này tồn tại ngay cả khi con người nhận ra lòng trung thành của họ với dân tộc, màu da, chúa trời hay đội bóng nào đó hoàn toàn là một sự ngẫu nhiên, chẳng khác gì tung đồng xu. Sự ghi nhớ này là cần thiết, khi với cơ chế hoạt động đó của bộ não, chẳng có gì đảm bảo là những người đồng đội ngày hôm nay sẽ không biến thành những kẻ thù bên kia chiến tuyến vào ngày mai. Ảnh Harvard Business Review. Những bộ óc bè phái Khuynh hướng chia phe “ta với địch” hằn sâu trong đầu mỗi người. Nhiều nghiên cứu cẩn trọng chỉ ra rằng bộ não có khả năng phân biệt với tốc độ nhanh chóng mặt. Trong một nghiên cứu, người tình nguyện tham gia được theo dõi qua máy quét não brain scanner, trong lúc màn hình trước mặt người đó hiển thị thoáng qua hình ảnh các gương mặt người. Với người tham gia là da trắng, khi hình ảnh gương mặt người da đen xuất hiện trên màn hình, hạch hạnh nhân amygdala trong họ lập tức được kích hoạt trong vòng chưa tới 1/10 giây. Hạch hạnh nhân là một vùng trong não liên quan tới các cảm xúc sợ hãi và hung hăng. Trong đa số trường hợp, phần thùy trán, hay vùng vỏ não trước trán prefrontal cortex, nơi có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát các cơn bốc đồng và điều hòa cảm xúc, nhanh chóng ra tay một hoặc hai giây sau khi hạch hạnh nhân được kích hoạt, tìm cách xoa dịu nó, “đừng nghĩ vậy, đó không phải bản chất của mình đâu.” Nhưng ngay cả ở những người có hiểu biết, sợ hãi thường là một trong những phản ứng đầu tiên. Phát hiện này thật ra không có gì bất ngờ. Khi nhìn vào mặt một người thuộc cùng chủng tộc với mình, phần vỏ não hình thoi fusiform cortex được kích hoạt. Đây là một vùng chuyên dụng có trong não của các loài linh trưởng, chịu trách nhiệm nhận biết gương mặt. Nhưng phần vỏ não hình thoi này lại không được kích hoạt nhiều như vậy khi gương mặt đang nhìn thấy là của một chủng tộc khác. Một vùng khác trên não, thể hiện sự cảm thông, được gọi là vùng vòng cung vỏ não trước anterior cingulate cortex, được kích hoạt khi ta chứng kiến tay ai đó bị kim đâm trúng. Nhưng nó chỉ được kích hoạt khi “ai đó” là người có cùng chủng tộc với mình. Với bàn tay của một người khác chủng tộc, vùng não này không mấy động đậy. Vậy là không phải gương mặt hay bàn tay nào cũng bình đẳng như nhau. Mọi lúc mọi nơi, chúng ta thường xuyên tự động đưa ra những đánh giá đầy cảm tính về những nhóm người/ sự vật khác nhau. Giả sử bạn có thành kiến với chằn tinh những nhân vật khổng lồ hung dữ trong các truyện cổ tích. Cho dù bình thường bạn che giấu không thể hiện thành kiến này, những thí nghiệm như kiểu “kiểm tra liên tưởng ngầm” Implicit Association Test cũng sẽ khiến nó lộ ra. Trong thí nghiệm đó, một màn hình vi tính sẽ hiển thị các gương mặt khác nhau, đan xen với các từ ngữ có cảm xúc mạnh, như kiểu “anh hùng” hay “đần độn”. Bạn được yêu cầu phản ứng với các hiển thị đó bằng cách bấm nhanh một trong hai nút, hoặc A hoặc B. Nếu yêu cầu trùng khớp với thành kiến của bạn, ví dụ bấm A khi thấy mặt chằn tinh hay những từ tiêu cực, B khi hiển thị mặt người hay những từ tích cực, bạn sẽ hoàn thành thí nghiệm dễ dàng, phản ứng nhanh chóng và chính xác. Nhưng nếu yêu cầu trái ngược với thành kiến đó, bấm A khi thấy mặt người hay một từ tiêu cực, B khi đó là chằn tinh hay một từ tích cực, phản ứng của bạn sẽ chậm lại. Bạn sẽ khựng lại mỗi lượt, khi việc phải đặt chằn tinh trong cùng một nhóm với “tử tế” và con người với “hôi thối” khiến bạn mất đi vài phần nghìn giây. Khi tiến hành đủ số lượt thí nghiệm, sự khựng lại cộng dồn sẽ hiện rõ ra, cùng với đó là thành kiến của bạn. Trong thí nghiệm, đó là thành kiến đối với chằn tinh. Trên thực tế, đó có thể là thành kiến chống lại bất kỳ nhóm nào, theo chủng tộc, tôn giáo, sắc tộc, độ tuổi hay hình dạng cơ thể. Tất nhiên, nhiều thành kiến loại này là kết quả của một quá trình lâu dài. Nhưng các nền móng nhận thức để tạo ra chúng thì tồn tại sẵn từ đầu. Trẻ sơ sinh thích tương tác với những người nói cùng thứ ngôn ngữ với bố mẹ chúng. Chúng cũng phản ứng tích cực hơn, và dễ dàng nhớ gương mặt của những người cùng chủng tộc của bố mẹ mình. Tương tự, trẻ con ba tuổi thích những người cùng chủng tộc và giới tính với mình hơn là những người khác. Nó không có nghĩa trẻ con sinh ra đã có sẵn quan điểm phân biệt chủng tộc, hay cha mẹ chúng nhồi nhét những thành kiến chủng tộc và giới tính đó vào đầu các đứa trẻ – mặc dù trên thực tế, nếu điều đó xảy ra, các đứa trẻ sẽ cực kỳ dễ dàng bị ảnh hưởng. Những hiện tượng trên chỉ cho thấy một điều đơn giản, trẻ con thích những thứ quen thuộc, và điều này thường khiến chúng phân nhóm dựa theo tiêu chí chủng tộc, ngôn ngữ của cha mẹ mình. Có những trường hợp, những thứ được xem là nền tảng cho sự thương yêu và hợp tác, lại cũng đồng thời là gốc rễ cho những cảm xúc đen tối bên trong con người. Có thể xem ví dụ về oxytocin, một chất thường được xem là “hormone tình yêu” hay “hormone âu yếm” cuddle hormone. Trong các loài động vật có vú, oxytocin là chất trung tâm tạo nên sự kết dính giữa mẹ và con, đồng thời cũng tạo nên sự gần gũi mật thiết giữa các cặp đôi bạn tình với nhau. Với con người, sự xuất hiện của chất này thúc đẩy một loạt những hành vi gắn kết xã hội. Đối tượng thí nghiệm khi được tiêm oxytocin trở nên rộng rãi, có niềm tin vào mọi người, biết cảm thông và thể hiện cảm xúc của mình hơn. Nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy oxytocin chỉ giúp con người thể hiện các hành vi tốt đẹp đó dành cho những ai “thuộc phe mình”. Đối với người ngoài, hay “phe kia”, sự xuất hiện của chất này chỉ khiến họ càng thêm hung hăng và bài ngoại. Thông thường, các hormone không thay đổi hành vi của con người theo cách này; chúng chỉ có mức độ tác động khác nhau, mạnh hay yếu, dựa trên những điều kiện môi trường khác nhau. Trong trường hợp của oxytocin, nó lại khiến con người thay đổi hành vi, đào sâu thêm hố ngăn phi lý giữa “ta” và “địch”. Tóm lại, bức tranh về đời sống xã hội con người qua các nghiên cứu trong sinh học thần kinh neurobiology, nội tiết học endocrinology và tâm lý học phát triển developmental psychology đều không sáng sủa gì. Xét về tương tác trong các nhóm xã hội, con người không quá khác biệt so với những con tinh tinh giết nhau trong các khu rừng ở Uganda. Khuynh hướng lớn nhất của nhân loại là nghiêng về những thứ quen thuộc với mình. Bất cứ thứ gì, hay bất kỳ ai khác, khả năng cao đều sẽ phải đối mặt với sự nghi kỵ, sợ hãi hoặc những phản ứng hung hăng. Ít nhất đó là các phản ứng xuất hiện đầu tiên. Trên thực tế, con người có thể suy nghĩ lại, và kiềm chế xu hướng gây hấn với “phe kia”. Nhưng để làm được điều đó, chúng ta thường phải dùng đến bước chỉnh sửa, xuất hiện muộn hơn những phản ứng đầu tiên. Đối với nhiều người, hai khái niệm “Hồi giáo” và “nước Mỹ” không ăn nhập gì với nhau. Ảnh MANDEL NGAN/AFP/Getty Images. Từ những chiếc khăn xếp đến bộ râu quai nón Như đã đề cập ở phần đầu, giữa tất cả những bi quan về bản năng khó sửa của con người, có một điều an ủi là nó hoàn toàn có thể thay đổi. Thành kiến bè phái trong mỗi con người có gốc rễ thâm sâu, nhưng lại dựa trên những đặc điểm trung tính, không cố định. Các phản ứng sinh học khiến chúng ta, chỉ trong tích tắc, tự động phân biệt “địch – ta”, nhưng những tính chất xác định “địch” và “ta” đó không bị ràng buộc cố định. Trên thực tế, ranh giới đó có thể thay đổi chỉ trong chớp mắt. Một trong những thực tế đầu tiên cần nói đến, đó là con người không thuộc về duy nhất một nhóm nào, mà cùng lúc nằm trong nhiều nhóm đan xen nhau – mỗi nhóm có những đặc tính ranh giới riêng, như các cộng đồng tôn giáo, chủng tộc hoặc sắc tộc khác nhau; những nhóm fan ủng hộ các đội bóng khác nhau; những nhóm người làm việc cho các công ty cạnh tranh nhau; hay đơn giản là những nhóm tập hợp những người có sở thích khác nhau, ví dụ thích uống Coca Cola hơn hay thích Pepsi hơn. Điều quan trọng là các cột mốc quy định lằn ranh giữa các nhóm với nhau thay đổi thường xuyên liên tục. Đi ngoài đường ban đêm trên con phố không đèn tối đen như mực, nếu phát hiện một người thuộc phe “bọn chúng” đến gần, hạch hạnh nhân amygdala của chúng ta sẽ nhảy tưng tưng đầy báo động. Nhưng ngồi cạnh người đó trong sân vận động, cùng cổ vũ một đội bóng, cùng đồng thanh ca vang bài hát truyền thống của đội đó, hạch hạnh nhân trong người ta lại ngoan ngoãn cuộn tròn im ắng. Các nhà nghiên cứu tại Đại học California – cơ sở Santa Barbara, đã chỉ ra rằng những đối tượng tham gia thí nghiệm, khi được cho xem hình ảnh người, thường nhanh chóng và phân loại một cách tự động những người xuất hiện trong hình theo chủng tộc. Nhưng khi những người xuất hiện trong ảnh, da trắng lẫn da đen, được cho mặc hai loại đồng phục khác màu nhau, đối tượng thí nghiệm tự động bắt đầu phân loại họ theo đồng phục, thay vì theo chủng tộc. Nói cách khác, xu hướng tư duy phân biệt phe ta/ phe họ của con người phần nhiều không phụ thuộc vào các đặc điểm sinh học cố định. Thay vào đó, năng lực nhận thức của chúng ta phát triển đến cấp độ có thể phát hiện và nắm lấy bất kỳ chỉ dấu xã hội nào để xác định ra những phe nhóm khác biệt, nhận biết bạn và thù, từ đó tăng khả năng sống sót. Những chỉ dấu đặc tính mà con người dựa vào để xác định bạn thù này lại thay đổi tùy thuộc vào môi trường xã hội, và có thể dễ dàng bị kiểm soát khống chế. Ngay cả khi ranh giới giữa các nhóm là cố định, các đặc tính gán cho những nhóm đó đều có thể thay đổi. Ví dụ như quan điểm và thái độ của người Mỹ đối với từng nhóm người nhập cư khác nhau da đen, Mỹ Latin, châu Á… thay đổi rõ rệt qua thời gian. Và tùy thuộc vào những khu vực khác nhau, lằn ranh phân biệt giữa các nhóm có khi được kẻ đậm ở chỗ này lại bị xóa nhòa, thậm chí biến mất hoàn toàn ở chỗ khác. Tác giả lớn lên ở một khu vực thuộc New York, tại vùng Đông Bắc nước Mỹ, nơi có những căng thẳng sâu sắc và sự phân biệt rõ ràng về chủng tộc giữa các nhóm người. Nhưng khi đến miền Trung nước Mỹ, ông lại phát hiện ra ở đây chẳng ai để tâm phân biệt nhóm này nhóm kia, “phe ta” và “phe địch” như vậy. Chỉ có con người mới có sự linh hoạt và thay đổi nhận thức dựa trên hoàn cảnh khác nhau. Các giống loài khác phân biệt phe nhóm dựa trên sự gần gũi về mặt sinh học, hay thứ mà các nhà sinh học theo thuyết tiến hóa gọi là “chọn lọc huyết thống” kin selection. Các loài gặm nhấm dựa vào mùi – dấu hiệu hóa học cố định được di truyền – để phân biệt anh chị em, họ hàng và người lạ, từ đó có hành vi hợp tác tương ứng. Băng đảng tinh tinh hung bạo ở đầu câu chuyện đa phần được hình thành từ các anh chị em, họ hàng, lớn lên cùng nhau và chủ yếu chuyên đi đánh lại những kẻ bên ngoài. Con người tất nhiên cũng có khả năng chọn lọc huyết thống và hành xử bạo lực đối với người khác huyết thống, nhưng thông thường nhận thức tư duy của con người về phe nhóm không bị ràng buộc bởi các đặc tính gia đình như vậy. Đa phần các xã hội hiện đại được tạo dựng dựa trên nền tảng chọn lọc gần gũi văn hóa cultural kin selection, một quy trình biến những người hoàn toàn xa lạ về mặt sinh học trở thành những người anh chị em cột chèo kết thân với nhau. Việc này thường diễn ra dựa trên một quá trình chủ động bồi dưỡng sự gắn kết, thông qua các nghi thức, tập quán, ngôn ngữ của các nhóm riêng biệt. Ví dụ như những người sau khi tham gia các khóa huấn luyện quân sự trở thành “nhóm huynh đệ”, hay những sinh viên năm nhất hoàn toàn không quen biết sau một thời gian lại trở thành “tỉ muội thân thiết”, hoặc như tập hợp “đại gia đình nước Mỹ” chào đón những người nhập cư hòa nhập vào cộng đồng đó là vào thời trước, ngày nay tinh thần “đại gia đình” này có vẻ đã bị quên lãng. Sự gắn kết dựa trên những đặc điểm không cố định, có thể thay đổi này khiến cho con người sẵn sàng tiếp nhận những chỉ dấu ngẫu nhiên để xác định “gia đình văn hóa” cultural kin của mình giữa đại dương mênh mông những kẻ lạ mặt. Từ đó, những lá cờ, trang phục, hoặc hình thức đầu tóc trở thành những biểu tượng quan trọng cho những cộng đồng khác nhau. Chiếc râu quai nón, khăn xếp đội đầu, hay chiếc mũ “Biến nước Mỹ vĩ đại trở lại” Make America Great Again, tất cả đều đóng vai trò đó, bắn ra những tín hiệu mạnh mẽ về đặc tính của phe nhóm mà nó đại diện. Không chỉ dễ thay đổi, các cộng đồng văn hóa này còn tồn tại hoàn toàn ngẫu nhiên. Những gia đình nhập cư là một ví dụ điển hình. Những kết quả visa mà nhiều khi giống như trò xổ số may rủi, quyết định và thay đổi hoàn toàn hoàn cảnh giáo dục, cơ hội nghề nghiệp và sự gắn kết văn hóa của một đứa trẻ. Tác giả lớn lên trong một gia đình nhập cư vào Mỹ. Nếu ngày đó ông bà nội và cha của ông không lên kịp chuyến tàu rời Moscow mà họ suýt lỡ mất, có lẽ giờ này tác giả đã là một trí thức Nga luôn miệng phì phèo tẩu thuốc, rơi nước mắt mỗi khi nhắc về trận chiến Stalingrad, thay vì là một học giả Mỹ mang giày hiệu Birkenstock, xúc động về trận đánh tại Trân Châu Cảng Pearl Harbor. Bức tranh lớn về đặc tính của nhóm – những tính cách dân tộc và các quy tắc văn hóa tạo nên cuộc sống của chúng ta – được gom từ những câu chuyện cá nhân như vậy. Và nếu câu chuyện của từng cá nhân, từng gia đình đã đầy các yếu tố ngẫu nhiên, câu chuyện về đặc tính của nhóm, của cả dân tộc lại càng đầy rẫy sự ngẫu nhiên và biến đổi mà không ai có thể đoán định trước. Làm thế nào để những người khác nhau chung sống hoà bình với nhau? Ảnh Lennis Mahler/The Salt Lake Tribune/AP. Cách mạng hay cải cách Bản chất ngẫu nhiên đó về đặc tính của nhóm – bất kể là nhóm dân tộc hay nhóm nào – không khiến sự xuất hiện và tồn tại của các nhóm đó bớt quan trọng, cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực. Về mặt tích cực, chủ nghĩa dân tộc nationalism và chủ nghĩa yêu nước patriotism có thể khuyến khích người dân nộp thuế đầy đủ, chăm lo cho những người có hoàn cảnh khó khăn trong cùng đất nước, bao gồm cả những người họ chưa từng và sẽ không bao giờ gặp mặt. Nhưng vì sự đoàn kết này được xây dựng trên các chỉ dấu văn hóa được nhấn mạnh để tạo ra câu chuyện về một “đại gia đình ngụy tạo” pseudo-kinship, nó có thể dễ dàng bị lung lay, đặc biệt trong trường hợp của toàn cầu hóa, khi những người từng được xem là “thành viên gương mẫu” trong đại gia đình văn hóa giờ đây bỗng cảm thấy mình thành người thừa, và khi họ phải tương tác với những nhóm người rất khác biệt so với những người mà cha ông họ từng tiếp xúc. Đối diện với sự thay đổi đột ngột đó, chủ nghĩa dân tộc của những công dân đóng thuế có thể nhanh chóng đổi tông chuyển sang một màu đen kịt sự thù hằn phi nhân tính biến những người Do Thái thành “loài sâu bọ”, người Tutsi trở thành “những con gián”, hay người Hồi giáo trở thành “bọn khủng bố”. Ngày nay, tông màu đen tối của chủ nghĩa dân tộc đang quay trở lại khắp nơi, được những nhà lãnh đạo hăng hái lợi dụng kích động để lấy phiếu bầu. Đối diện với sự trỗi dậy này, giải pháp nảy ra ngay trong đầu là phải hướng vào lý trí của những người đó. Chủ nghĩa dân tộc là sản phẩm của nhận thức, nếu thay đổi được nhận thức thì sẽ thay đổi được nó. Và nếu nhận ra rằng chủ nghĩa dân tộc cùng với những tư duy bè phái phe nhóm đều là những sản phẩm ngẫu nhiên phi lý, người ta sẽ không còn nhắm mắt đưa chân chạy theo tôn thờ những thứ đó nữa. Trên thực tế, đó là ước mơ xa vời. Ngay cả khi người ta biết được sự gắn kết, chia phe lập nhóm là kết quả ngẫu nhiên không định trước, mối dây liên kết đó của họ cũng không bị sứt mẻ gì. Nhà tâm lý học Henri Tajfel vào những năm 1970 đã gọi hiện tượng này là “mô tuýp lập nhóm tối thiểu” the minimal group paradigm. Trong thí nghiệm, những người tham gia được chia thành hai nhóm dựa trên việc tung đồng xu sấp ngửa. Họ đều biết rõ sự phân chia này hoàn toàn ngẫu nhiên và vô nghĩa. Vậy nhưng chỉ sau vài phút, họ đều thể hiện thái độ tích cực, tin tưởng nhiều hơn dành cho “phe của mình”. Bên Sấp không thích chơi với bên Ngửa, và ngược lại. Ngay cả khi ranh giới giữa các nhóm xã hội là ngẫu nhiên hoàn toàn và ai cũng thấy rõ điều đó, tư duy “ta và địch” vẫn có sức mạnh đáng kể ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành vi của con người. Vậy có thể tưởng tượng sức mạnh đó lớn kinh khủng dường nào khi sự phân định này được lồng ghép theo những tư tưởng phức tạp về lòng trung thành đối với tổ quốc. Thứ quan điểm bè phái này rõ ràng không phải là sản phẩm của lý trí, và vì vậy không thể dùng lý trí để kéo nó ra khỏi đầu người khác. Xã hội hiện đại có thể sẽ bị dính chặt với chủ nghĩa dân tộc cùng những dạng thức chia rẽ phân nhóm khác, và có lẽ sẽ tốt hơn nếu chúng ta tìm cách kiểm soát và khai thác những động lực của nó, thay vì chống lại và dè bỉu chúng. Thay vì ôm lấy chủ nghĩa sô-vanh hiếu chiến jingoism – cho nước mình là nhất, đặc biệt là thể hiện qua việc đi gây chiến với các nước khác và cổ vũ tư tưởng bài ngoại xenophobia, các nhà lãnh đạo nên dùng xu hướng phe nhóm của người dân để khuyến khích sự hợp tác, tinh thần trách nhiệm và sự quan tâm chăm sóc dành cho những đồng bào của mình. Hãy thử tưởng tượng khi một người có thể tự hào về dân tộc mình, không phải ở sức mạnh quân sự vượt trội hay sắc tộc thuần nhất, mà ở khả năng chăm sóc cho những người lớn tuổi, nuôi nấng giáo dục những đứa trẻ biết cảm thông, hoặc ở một xã hội đảm bảo mọi người đều có cơ hội thăng tiến và phát triển bản thân social mobility. Chủ nghĩa dân tộc tiến bộ đó progressive nationalism chắc chắn tốt hơn nhiều so với câu chuyện dân tộc được dựng nên quanh các huyền thoại bị ức hiếp và ước vọng phải phục thù. Tuy nhiên, xu hướng gán mác tốt đẹp cho những thứ quen thuộc với mình luôn hằn sâu trong đầu mỗi người. Với một cái đầu như vậy, cho dù có một ngày các quốc gia không còn khoe khoang kho vũ khí, không còn đòi ức hiếp, không còn tranh đoạt quyền lợi với những nước khác, mà chuyển sang làm những điều tốt đẹp có lợi cho xã hội, vẫn luôn có khả năng họ sẽ lại gây chiến với nhau chỉ để tranh xem “ai là người tốt hơn”. Mặt đen tối của chủ nghĩa dân tộc, vì vậy, sẽ khó được rửa sạch trong một sớm một chiều. *** Hết phần lược dịch Trong một trao đổi ngắn với người dịch để giải thích về các quan điểm trong bài viết, giáo sư Robert Sapolsky đã nói rằng góc nhìn của ông khá “bi quan”. Có thể sẽ có nhiều bạn đọc cũng có chung suy nghĩ, sau khi “thẩm thấu” được sức mạnh tiêu cực của những thứ bản năng hằn sâu trong đầu chúng ta mà việc xóa bỏ nó gần như là bất khả thi. Cảm giác bi hay lạc thật ra không phải thứ quan trọng nhất. Điều quan trọng hơn cả là xác nhận được những sự thực. Những trình bày của tác giả đều dựa trên các nghiên cứu khoa học được xác thực. Nó đều rất thực tế. Càng đến gần với thực tế, hay sự thật, người ta càng có thể trở nên tốt hơn. Những quan điểm “bi quan” nhưng thực tế ở trên là lời tự nhắc nhở không thể phù hợp hơn, rằng cho dù nhân loại có “tiến bộ” và “văn minh” đến đâu, nếu không cảnh giác, tỉnh táo trước những tư duy bốc đồng theo bản năng, vẫn sẽ luôn có khả năng chúng ta tự biến mình thành ác quỷ. Càng nhận thức được rõ ràng những cơ chế hoạt động theo bản năng đó, con người càng có thể tỉnh táo để tránh nhắm mắt đưa chân trở thành nạn nhân của chính mình. Khả năng tự nhận thức này có lẽ là thứ giúp cho nhân loại thật sự đặc biệt hơn theo cách tốt đẹp, so với muôn vàn sinh vật trên trái đất này. Từ khoáchủ nghĩa dân tộc nationalism nchủ nghĩa dân tộc tiến bộ progressive nationalism npchủ nghĩa yêu nước patriotism nthành kiến bè phái in-group bias npchọn lọc huyết thống kin selection npchọn lọc gần gũi văn hóa cultural kin selection np
Mặc dù người ta dùng từ chủng tộc để định nghĩa và chia rẽ con người trong hàng thiên niên kỉ nay, khái niệm này hoàn toàn không có cơ sở di truyền học. Hình ảnh DNA của hai đối tượng trên giống nhau 99%. Đang xem Chủ nghĩa chủng tộc là phản khoa học Gene của hai người bất kì nào, còn giống nhau hơn thế. Nhưng sau khi những tổ tiên tiền sử của chúng ta rụng phần lớn lông trên cơ thể, sự khác biệt dễ thấy nhất trong quá trình tiến hóa của chúng ta là màu da. Những tinh chỉnh rất nhỏ trong DNA của chúng ta là nguyên nhân của điều đó. Màu da tối giúp cho tổ tiên của chúng ta thích nghi với ánh nắng đổ lửa vùng châu Phi, trong khi với những người di cư khỏi châu Phi tới những vùng ít ánh nắng hơn, màu da sáng hơn trở thành lợi đẻ của chủ nghĩa khoa học phân biệt chủng tộcTrong nửa đầu thế kỷ 19, một trong những nhà khoa học hàng đầu nước Mỹ là bác sĩ Samuel Morton. Morton sống ở Philadelphia và công việc của ông ta là thu thập các hộp chẳng phải là một nhà sưu tập kén chọn ông chấp nhận tất cả hộp sọ dù chúng được nhặt về từ các chiến trường hay cướp từ các hầm mộ. Một trong những hộp sọ nổi tiếng nhất của ông thuộc về một người Ailen, một kẻ tù tội được gửi đến Tasmania và cuối cùng bị treo cổ vì giết và ăn thịt bạn tù. Với mỗi hộp sọ, Morton thực hiện cùng một quy trình Ông ta nhồi chúng bằng hạt tiêu, và sau đó là đạn chì, để xác định thể tích của hộp tin rằng mọi người có thể được chia thành năm chủng tộc, đại diện cho các năng lực sáng tạo riêng biệt. Các chủng tộc có các đặc tính đặc thù, tương ứng với vị trí của chúng trong một cấp bậc được định sẵn. Kết quả nghiên cứu các hộp sọ của ông cho thấy người da trắng là người thông minh nhất trong các chủng tộc Caucasian. Tiếp đến là người Đông Á Morton sử dụng thuật ngữ Mongolian để chỉ họ, mặc dù khá là thông minh và có khả năng học hỏi, vẫn xếp dưới một bậc. Tiếp theo là người Đông Nam Á, rồi đến người Mỹ bản địa. Người da đen, hay người Ethiopia, đứng chót bảng. Trong những thập kỷ trước Nội chiến, những ý tưởng của Morton đã nhanh chóng được ủng hộ bởi những người bảo vệ chế độ nô lệ. “Ông ấy có nhiều ảnh hưởng, đặc biệt là đối với miền Nam nước Mỹ”. Paul Wolff Mitchell, một nhà nhân học tại Đại học Pennsylvania nói và cho tôi xem bộ sưu tập hộp sọ mà hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Penn. Chúng tôi đứng cạnh hộp sọ của một người Hà Lan có kích thước lớn hơn người bình thường đã giúp thổi phồng ước tính của Morton về kích thước hộp sọ cũng như năng lực của người da trắng. Khi Morton qua đời, vào năm 1851, Tạp chí Y tế Charleston ở Nam Carolina đã ca ngợi ông vì “đã giúp người da đen nhận ra vị trí thực sự của họ là một chủng tộc thấp kém”.Ngày nay, Morton được biết đến như là cha đẻ của chủ nghĩa khoa học phân biệt chủng tộc. Quá nhiều điều kinh hãi đã xảy ra trong những thế kỷ qua đã xuất phát từ ý tưởng cho rằng một chủng tộc này thấp kém hơn một chủng tộc khác, và điều đó khiến cho chuyến tham quan bộ sưu tập của Morton trở thành một trải nghiệm đầy ám ảnh. Giờ đây, chúng ta vẫn phải chịu đựng di sản của Morton ở một mức nào đó, phân biệt chủng tộc vẫn tiếp tục định hình nền chính trị, khu vực sống và ngay cả ý thức về bản thân chúng phân biệt chủng tộc, hay tàn tích của nó, vẫn hiện hữu, mặc dù những gì khoa học chân chính cho chúng ta biết về chủng tộc hoàn toàn trái ngược với những gì Morton nói. Morton nghĩ rằng ông ta đã tìm ra sự khác biệt có tính bất biến và di truyền giữa người với người, nhưng đó là thời điểm ngay trước khi Charles Darwin đưa ra thuyết tiến hóa của mình và rất lâu trước khám phá của DNA xuất hiện, nói cách khác, thời điểm bấy giờ các nhà khoa học còn chẳng biết các tính trạng được di truyền cho thế hệ sau như thế nào. Các nghiên cứu hiện đại xem xét con người ở cấp độ di truyền đã cho thấy rằng toàn bộ cái gọi là “chủng tộc” là hoàn toàn sai. Thật vậy, khi các nhà khoa học bắt đầu lắp ráp hoàn chỉnh hệ gene người đầu tiên, họ đã chủ đích thu thập các mẫu từ những người tự nhận là thành viên của các chủng tộc khác nhau. Vào tháng 6 năm 2000, khi kết quả được công bố tại một buổi lễ tại Nhà Trắng, Craig Venter, một trong những người tiên phong về giải trình tự DNA, đã chỉ ra khái niệm chủng tộc là hoàn toàn không có cơ sở di truyền hoặc khoa vài thập kỷ qua, nghiên cứu di truyền đã tiết lộ hai sự thật sâu sắc về con người. Một là tất cả con người có liên quan chặt chẽ với nhau, liên quan chặt chẽ hơn mối liên hệ giữa tất cả các con tinh tinh, mặc dù chúng ta đông hơn rất nhiều. Mọi người đều có bộ sưu tập gene giống nhau, nhưng ngoại trừ các cặp song sinh cùng trứng, mỗi chúng ta đều có một phiên bản hơi khác một chút. Các nghiên cứu về sự đa dạng di truyền này đã cho phép các nhà khoa học tái tạo cây gia đình của quần thể người. Điều đó đã tiết lộ sự thật sâu sắc thứ hai Thực tế là, tất cả những người đang sống ngày hôm nay đều là người châu Phi. Loài người, Homo sapiens, xuất hiện ở châu Phi vào một thời điểm hay địa điểm mà không ai chắc chắn được. Phát hiện hóa thạch gần đây nhất, từ Morocco, cho thấy các đặc điểm hiện đại về mặt giải phẫu của con người bắt đầu xuất hiện từ năm trước. Trong khoảng năm tiếp theo, chúng ta vẫn tiếp tục ở châu Phi, nhưng trong khoảng thời gian đó, đã có các nhóm bắt đầu di chuyển đến các khu vực khác nhau của lục địa, trở nên tách biệt với các nhóm khác và thành lập các quần thể người, cũng như ở tất cả các loài, những thay đổi di truyền là kết quả của các đột biến ngẫu nhiên. Những đột biến đó như những “tinh chỉnh” nhỏ trên bản mã sự sống – DNA của chúng ta. Đột biến xảy ra với tốc độ ít nhiều không đổi, do đó, chừng nào những người đó còn duy trì thành một nhóm, truyền lại gien từ thế hệ này sang thế hệ khác, các đột biến sẽ ngày một nhiều hơn. Đồng thời, hai nhóm càng tách biệt nhau càng lâu thì đặc điểm khác biệt giữa họ càng cách phân tích gene của người châu Phi ngày nay, các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng nhóm người Khoe-San, hiện đang sống ở miền Nam châu Phi, là đại diện cho một trong những nhánh lâu đời nhất của cây gia đình loài người. Nhóm người Pygmies của miền Trung châu Phi cũng đã tách ra là một nhóm riêng biệt từ rất lâu trong lịch sử. Điều này có nghĩa là sự chia rẽ sâu sắc nhất trong gia đình loài người không phải là giữa những người thường được coi thuộc về những chủng tộc khác nhau, những người da trắng, người da đen hoặc người châu Á hay người Mỹ bản địa. Trái lại, sự phân chia sâu sắc nhất đã xuất hiện hàng chục ngàn năm trước, giữa chính những dân tộc châu Phi như Khoe-San và Pygmies, ngay cả trước khi con người rời khỏi châu cả những người không phải là người châu Phi ngày nay đều là hậu duệ của một vài ngàn người rời khỏi châu Phi vào khoảng năm trước, di truyền học cho chúng ta biết là như vậy. Những người di cư từ thưở sơ khai này có mối liên hệ chặt chẽ nhất với các nhóm ngày nay sống ở Đông Phi, bao gồm Hadza của Tanzania. Họ chỉ là một tập hợp nhỏ của dân số châu Phi, nên chính họ, những người di cư cũng chỉ mang theo một phần nhỏ sự đa dạng di truyền của lục một nơi nào đó trên đường đi, có lẽ ở Trung Đông, những người di cư đã gặp và rồi quan hệ với một nhóm người khác là Neanderthal; xa hơn về phía Đông họ lại gặp phải một người khác, người Denisovan. Cả hai nhóm người trên đã tiến hóa từ một giống người hominin trên lục địa Á-Âu và rời khỏi châu Phi từ rất lâu trước đó. Một số nhà khoa học cũng tin rằng cuộc di cư từ năm trước thực sự là làn sóng thứ hai của người hiện đại rời khỏi châu Phi. Nếu vậy, đánh giá từ bộ gene của chúng ta ngày hôm nay, làn sóng thứ hai rõ ràng mang nhiều ảnh hưởng hơn làn sóng đầu một cách tương đối, con cái của tất cả những người di cư này đã phân tán trên khắp thế giới. Khoảng năm trước họ đã đến Úc. Khoảng năm trước, họ đã định cư ở Siberia và năm trước họ đã đến Nam Mỹ. Khi họ di chuyển đến các khu vực khác nhau trên thế giới, họ đã thành lập các nhóm mới và trở nên tách biệt về mặt địa lý với nhau. Chính trong quá trình đó, họ đã có được bộ đột biến gene đặc biệt của riêng họ. Hầu hết các đột biến này không hữu ích cũng không có hại. Nhưng đôi khi một đột biến phát sinh lại thành ra là một lợi thế trong một hoàn cảnh mới. Dưới áp lực của chọn lọc tự nhiên, nó nhanh chóng lan ra trong quần thể địa phương. Ví dụ như ở độ cao lớn với nồng độ oxy thấp, những người di chuyển đến vùng cao nguyên ở Ethiopia, Tây Tạng hoặc Andean Altiplano có một sự đột biến giúp họ thích nghi với không khí loãng. Tương tự, người Inuit có các đột biến gene giúp họ thích nghi với chế độ ăn giàu hải sản có nhiều axit khi rõ ràng chọn lọc tự nhiên đã giúp ủng hộ một sự đột biến nào đó nhưng chúng ta không rõ nguyên nhân tại sao. Đó là trường hợp với một biến thể của một gene được gọi là EDAR. Hầu hết những người có nguồn gốc Đông Á và người Mỹ bản địa sở hữu ít nhất một bản sao của biến thể này, được gọi là 370A, và nhiều người sở hữu đến hai bản. Nhưng nó rất hiếm trong số những người gốc Phi và châu Âu. Tại Đại học Y khoa Pennsylvania, Perelman, nhà di truyền học Yana Kamberov đã đưa vào chuột thí nghiệm những biến thể EDAR ở Đông Á với hy vọng hiểu được nhiệm vụ của nó. “Chúng thật dễ thương phải không?” Yana mở lồng cho tôi xem. Những con chuột trông bình thường, với bộ lông màu nâu bóng mượt và đôi mắt đen sáng bóng. Nhưng khi được kiểm tra dưới kính hiển vi, chúng khác với những người anh em họ cũng dễ thương không kém theo những cách tinh tế nhưng quan trọng. Những sợi lông của chúng dày hơn; tuyến mồ hôi của chúng nhiều hơn; và các miếng mỡ xung quanh tuyến vú của chúng nhỏ hơn. Xem thêm Những con chuột của Kamberov giúp giải thích tại sao một số người Đông Á và người Mỹ bản địa có tóc dày hơn và tuyến mồ hôi nhiều hơn. Hiệu ứng EDAR ở tuyến vú người chưa rõ ràng. Nhưng chúng không giúp đưa ra một lý do nào gắn với nhu cầu tiến hóa. Có lẽ, Kamberov suy đoán, tổ tiên của người Đông Á đương đại tại một số thời điểm đã gặp phải điều kiện khí hậu khiến cho việc tuyến mồ hôi hoạt động mạnh hơn trở nên hữu ích. Hoặc có thể tóc dày hơn giúp họ tránh khỏi sự tấn công ký sinh trùng. Hay gene 370A có thể đã tạo ra những lợi ích khác mà Yana chưa khám phá ra mà những thay đổi mà cô xác định chỉ là hệ quả của những lợi ích đó. Di truyền thường hoạt động như thế này Một tinh chỉnh nhỏ có thể có nhiều hiệu ứng khác nhau. Chỉ có một hiệu ứng có thể hữu ích và nó có thể tồn tại lâu hơn các điều kiện đã tạo ra nó, giống cách các gia đình vẫn lưu giữ những bức ảnh cũ cho đến lúc không còn ai nhận ra bất cứ ai đó trong thường được so sánh dưới dạng văn bản, với các chữ cái viết tắt A cho adenine, C cho cytosine, G cho guanine và T cho thymine. Bộ gene của con người bao gồm ba tỷ cặp, từng hàng dài nồi nhau của các A, C, G, và T, chia thành khoảng gene. Tinh chỉnh giúp tóc dày hơn của người Đông Á là một thay đổi độc nhất trong một gene duy nhất, từ chữ T sang chữ C. Sự đa dạng ở châu Phi lớn hơn tất cả các châu lục khác cộng là bởi vì những con người hiện đại xuất thân từ châu Phi đã sống ở đây lâu nhất. Họ có thời gian để tiến hóa tạo ra sự đa dạng gene to lớn – dẫn tới cả đa dạng trong màu da. Những nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề này đôi khi sử dụng sự đa dạng trong ngôn ngữ của người châu Phi – họ có hơn 2000 ngôn ngữ nhìn sơ đồ phía dưới như một chỉ dẫn. Nhà nhiếp ảnh robin Hammond theo dấu những nghiên cứu này, đến thăm năm cộng đồng ngôn ngữ đại diện. “Không có một chủng tộc đồng nhất ở châu Phi”, nhà di truyền học Sarah Tishoff của Đại học Pennsylvania nói. “Nó không tồn tại”. Những người tiền sử đã rời châu Phi vào khoảng 60000 năm trước – lớn mạnh theo thời gian thành những người khác trên toàn thế giới – chỉ phản ánh một tỉ lệ nhỏ trong sự đa dạng ở châu tự, đột biến chịu trách nhiệm cho làn da sáng màu của đa số người châu Âu là một đột biến ở gene có tên là SLC24A5, bao gồm khoảng cặp cơ sở. Thay vì G như hầu hết người châu Phi cận Sahara, người châu Âu có A. Khoảng một thập kỷ trước, một nhà nghiên cứu bệnh học và nhà di truyền học tên Keith Cheng, tại Đại học Y khoa bang Pennsylvania, đã phát hiện ra đột biến bằng cách nghiên cứu cá ngựa vằn được lai tạo để có vằn nhạt màu hơn. Chúng hóa ra đã sở hữu một đột biến trong gene sắc tố tương tự như gene bị đột biến ở người châu cứu DNA chiết xuất từ xương của người cổ đã đã giúp các nhà cổ sinh vật học phát hiện ra rằng sự thay thế G-A đã được đưa vào Tây Âu tương đối gần đây. Cách đây khoảng năm trước, đột biến này đã được mang đến bởi những người di cư từ Trung Đông, mà chính họ cũng đã truyền bá một công nghệ mới canh tác nông nghiệp. Điều đó có nghĩa là những người vốn ở châu Âu, những người săn bắn hái lượm, những người đã tạo ra những bức tranh hang động ngoạn mục tại Lascaux, có lẽ không có làn da màu trắng mà là màu nâu. DNA cổ đại cho thấy rằng nhiều người châu Âu da đen cũng có đôi mắt xanh, một sự kết hợp hiếm thấy ngày nay. David Reich, một nhà cổ sinh vật học của Đại học Harvard có viết cuốn sách mới về chủ đề này với tựa đề “Chúng ta là ai và làm thế nào chúng ta lại có mặt ở đây”. Reich cho biết, không có những đặc điểm cố định liên quan đến các vị trí địa lý cụ thể, bởi vì thường thì trong khi sự cô lập đã tạo ra sự khác biệt giữa các quần thể, di cư và pha trộn đã làm mờ hoặc xóa nhòa khắp thế giới ngày nay, màu da thay đổi rất nhiều. Phần lớn sự khác biệt có mối tương quan với vĩ độ. Gần xích đạo với nhiều ánh sáng Mặt trời làm cho làn da tối màu trở thành lá chắn hữu ích chống lại tia cực tím; về phía các cực, nơi có quá ít ánh nắng Mặt trời, da nhạt màu hơn giúp thúc đẩy sự sản xuất vitamin D. Một số gene phối hợp với nhau để xác định tông màu da và các nhóm khác nhau có thể có bất kỳ sự kết hợp nào của các đột biến khác nhau. Trong số những người châu Phi, một số người, chẳng hạn như người Mursi ở Ethiopia, có làn da gần như gỗ mun, trong khi những người khác, như Khoe-San, có màu da đồng. Nhiều người Đông Phi có làn da sẫm màu, các nhà nghiên cứu đã rất ngạc nhiên khi biết rằng họ sở hữu biến thể da sáng SLC24A5. Đột biến này dường như đã được giới thiệu đến châu Phi cũng giống như cách nó thâm nhập vào châu Âu từ Trung Đông. Về phần mình, người Đông Á nói chung có làn da sáng nhưng sở hữu gene phiên bản da sẫm màu. Cheng đã sử dụng cá ngựa vằn để cố gắng tìm hiểu tại sao. “Đó là một điều không hề đơn giản”, ông cho mọi người nói về chủng tộc, thông thường họ dường như đang đề cập đến màu da và cũng đồng thời, ngụ ý về một thứ gì đó khác nữa. Đây là di sản của những người như Morton, người đã phát triển khoa học về chủng tộc, nhằm phù hợp với định kiến của chính mình và truyền bá cách hiểu sai về khoa học thực tế. Khoa học ngày nay cho chúng ta biết rằng sự khác biệt có thể nhìn thấy giữa các dân tộc chỉ là các “tai nạn” của lịch sử. Chúng chỉ phản ánh cách tổ tiên của chúng ta đối phó với ánh nắng Mặt trời, và chỉ vậy mà Norton, một nhà nhân chủng học phân tử tại Đại học Cincinnati, người chuyên nghiên cứu về sắc tố da, cho biết “Chúng ta thường có ý nghĩ rằng rằng nếu tôi biết về màu da của bạn, tôi biết X, Y và Z về bạn. Vì vậy, tôi nghĩ thật quan trọng khi giải thích cho mọi người rằng tất cả những thay đổi mà chúng ta thấy chỉ là vì tôi có yếu tố A trong bộ gene của mình và cô ấy lại có một yếu tố G.”Cách bộ sưu tập Morton khoảng một giờ lái xe, tại Đại học West Chester, Anita Foeman đang chỉ đạo Dự án Thảo luận DNA. Vào một buổi sáng mùa thu rực rỡ, bà đang trao đổi với những người tham gia mới nhất trong dự án, một tá sinh viên với nhiều màu da khác nhau, tất cả dán mắt vào màn hình máy tính xách tay. Một vài tuần trước đó, các sinh viên đã điền vào bảng câu hỏi về tổ tiên của họ. Các sinh viên sau đó đã gửi mẫu nước bọt để thử nghiệm di truyền. Bây giờ, thông qua máy tính, họ đang nhận lại kết quả của cô gái trẻ, có gia đình sống ở Ấn Độ đã từ nhiều đời nay, hoàn toàn sốc khi phát hiện ra một số tổ tiên của mình là người Ireland. Một cô gái khác, người đã lớn lên và tin rằng một trong những ông bà của mình là người Mỹ bản địa, đã thất vọng khi biết điều đó không phải là sự thật. Một người khác lại khá bối rối “Tôi đã mong đợi nguồn gốc đến từ Trung Đông nhiều hơn”, cô một giáo sư về truyền thông, đã quen với những phản ứng như vậy. Cô bắt đầu Dự án Thảo luận DNA vào năm 2006 vì cô quan tâm đến những câu chuyện, cả loại chuyện lưu truyền trong gia đình, và loại mà gene kể cho chúng ta. Ngay từ đầu dự án, rõ ràng những điều này thường không giống nhau. Một người đàn ông trẻ tuổi vẫn tự coi mình là đa chủng tộc đã tức giận khi phát hiện ra nguồn gốc của mình, trên thực tế, gần như hoàn toàn là châu Âu. Một số sinh viên được nuôi dưỡng trong các hộ gia đình Kitô giáo đã rất ngạc nhiên khi biết một số tổ tiên của họ là người Do Thái. Tất cả những câu chuyện từng bị chôn vùi rốt cục lại hiện lên, rõ ràng trong cả Foeman, người được xác định là người Mỹ gốc Phi, đã bất ngờ trước kết quả của bà. Chúng cho thấy một số tổ tiên của bà đến từ Ghana, những người khác đến từ Scandinavia. Người Neanderthal vẫn sống giữa chúng ta ngày nayỞ Duseldorf, Đức, một bức tượng ở gần bảo tàng Neanderthal khiến cho những người đi qua tò mò và ngắm nghía. Một vài trong số những người đầu tiên rời châu Phi đã gặp và quan hệ với người Neanderthal. Kết quả của điều này đó là tất cả những người không ở châu Phi ngày nay đều có một phần nhỏ DNA của người Neanderthal. Những gene này có thể thúc đẩy hệ miễn dịch và mức độ hấp thụ vitamin D nhưng cũng có rủi ro dễ mắc bệnh tâm thần phân liệt – và bị béo đã lớn lên vào những năm 1960, khi làn da sáng thực sự là một vấn đề lớn, bà giải thích. Vì vậy, tôi nghĩ rằng bản thân mình hoàn toàn là một người da nâu. Tôi đã rất ngạc nhiên khi biết rằng một phần tư nguồn gốc của tôi là người châu Âu. Xem thêm Điều này thật sự khiến tôi tin vào việc chủng tộc hoàn toàn là thứ chúng ta dựng lên, bà cho biết. Tất nhiên, chỉ vì chủng tộc được tạo nên không làm cho chúng trở nên kém mạnh mẽ hơn. Ở một mức độ đáng lo ngại, chủng tộc vẫn quyết định cách mọi người nhìn nhận, cơ hội và trải nghiệm của họ. Nó được ghi nhận trong cuộc điều tra dân số Hoa Kỳ, lần cuối cùng được thực hiện vào năm 2010, yêu cầu người Mỹ chọn chủng tộc của họ từ một danh sách phản ánh lịch sử của khái niệm này; bao gồm Da trắng, Da đen, Mỹ Ấn, Á Ấn, Trung Quốc, Nhật Bản, và Samoa. Sự phân biệt về mặt chủng tộc đã được viết vào luật Jim Crow của miền Nam sau tái thiết, bây giờ được viết thành các đạo luật như Đạo luật Dân quyền, trong đó cấm phân biệt đối xử trên cơ sở chủng tộc hoặc màu da. Đối với các nạn nhân của nạn phân biệt chủng tộc, đây chính là một an ủi nhỏ nhoi khi nói rằng phạm trù này là hoàn toàn không có cơ sở khoa học. Trình tự di truyền, đã cho phép các nhà nghiên cứu theo dõi con đường di cư của con người và bây giờ cho phép các cá nhân theo dõi tổ tiên của chính họ, đã đưa ra những cách nghĩ mới về sự đa dạng của con người. Dự án Thảo luận DNA cung cấp cho người tham gia cái nhìn sâu sắc về nguồn gốc của chính họ, thứ thường phức tạp hơn nhiều so với những gì họ vẫn tin tưởng. Và điều này, đến lượt nó, mở ra một cuộc trò chuyện cởi mở về lịch sử lâu dài, rối rắm và tàn bạo mà tất cả chúng ta cùng có tộc là do con người tạo nên, điều đó không có nghĩa là chúng ta không thể rơi vào các nhóm khác nhau, hoặc các nhóm không có biến thể. Foeman cho biết. Nhưng nếu chúng ta đã tạo ra các phạm trù về chủng tộc, có lẽ chúng ta sẽ có thể tạo ra các phạm trù khác với ý nghĩa thiết thực hơn.□Nguồn bài và ảnh fbclid=IwAR2l8J5zPoHhwkXc12osxeGFJZhhND0ukyHJnrFzOnS1AM0yHh11q_h1rD4 Post navigation
Phân biệt chủng tộc đề cập đến một loạt các thực hành, niềm tin, quan hệ xã hội và hiện tượng nhằm tái tạo hệ thống phân cấp chủng tộc và cấu trúc xã hội mang lại ưu thế, quyền lực và đặc quyền cho một số người cũng như phân biệt đối xử và áp bức cho những người khác. Nó có thể có một số hình thức, bao gồm đại diện, tư tưởng, diễn ngôn, tương tác, thể chế, cấu trúc và hệ thống. Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tồn tại khi các ý tưởng và giả định về các chủng tộc được sử dụng để biện minh và tái tạo hệ thống phân cấp chủng tộc và xã hội có cấu trúc chủng tộc hạn chế một cách bất công việc tiếp cận các nguồn lực, quyền và đặc quyền trên cơ sở chủng tộc . Phân biệt chủng tộc cũng xảy ra khi loại cấu trúc xã hội bất công này được tạo ra do không tính đến chủng tộc và các vai trò lịch sử và đương đại của nó trong xã hội. Trái ngược với định nghĩa từ điển, phân biệt chủng tộc, được định nghĩa dựa trên lý thuyết và nghiên cứu khoa học xã hội, còn hơn nhiều so với định kiến dựa trên chủng tộc — nó tồn tại khi sự mất cân bằng về quyền lực và địa vị xã hội được tạo ra bởi cách chúng ta hiểu và hành động theo chủng tộc. 7 hình thức phân biệt chủng tộc Theo khoa học xã hội, phân biệt chủng tộc có bảy dạng chính. Hiếm có cái nào tự tồn tại. Thay vào đó, phân biệt chủng tộc thường hoạt động như một sự kết hợp của ít nhất hai hình thức hoạt động đồng thời với nhau. Độc lập và kết hợp với nhau, bảy hình thức phân biệt chủng tộc này hoạt động để tái tạo các ý tưởng phân biệt chủng tộc, tương tác và hành vi phân biệt chủng tộc, thực tiễn và chính sách phân biệt chủng tộc, và một cấu trúc xã hội phân biệt chủng tộc tổng thể. Phân biệt chủng tộc mang tính đại diện Những mô tả về định kiến chủng tộc phổ biến trong văn hóa và phương tiện truyền thông đại chúng, như xu hướng lịch sử coi người da màu là tội phạm và nạn nhân của tội phạm hơn là các vai khác, hoặc làm nhân vật nền hơn là vai chính trong phim và truyền hình. Cũng phổ biến là những bức tranh biếm họa về chủng tộc mang tính phân biệt chủng tộc trong các đại diện của họ, chẳng hạn như " linh vật " cho người da đỏ Cleveland, Atlanta Braves và Washington Redskins. Sức mạnh của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đại diện — hay phân biệt chủng tộc thể hiện ở cách các nhóm chủng tộc được đại diện trong nền văn hóa đại chúng — là nó bao hàm một loạt các ý tưởng phân biệt chủng tộc ngụ ý sự thấp kém, và thường là sự ngu ngốc và không đáng tin cậy, trong những hình ảnh lưu truyền xã hội và thấm vào nền văn hóa của chúng ta . Mặc dù những người không bị tổn hại trực tiếp bởi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc mang tính đại diện có thể không coi trọng vấn đề này, nhưng sự hiện diện của những hình ảnh như vậy và sự tương tác của chúng tôi với chúng trên cơ sở gần như liên tục giúp duy trì những ý tưởng phân biệt chủng tộc gắn liền với chúng. Phân biệt chủng tộc theo ý thức hệ Ý thức hệ là một từ mà các nhà xã hội học sử dụng để chỉ thế giới quan, niềm tin và lối suy nghĩ thông thường bình thường trong một xã hội hoặc nền văn hóa. Vì vậy, phân biệt chủng tộc ý thức hệ là một loại phân biệt chủng tộc tô màu và biểu hiện trong những điều đó. Nó đề cập đến quan điểm, niềm tin và ý thức chung của thế giới bắt nguồn từ định kiến và thành kiến về chủng tộc. Một ví dụ đáng lo ngại là thực tế là nhiều người trong xã hội Mỹ, bất kể chủng tộc của họ, tin rằng những người da trắng và da sáng thông minh hơn những người da ngăm đen và vượt trội về nhiều mặt khác nhau. Trong lịch sử, hình thức tư tưởng phân biệt chủng tộc đặc biệt này đã hỗ trợ và biện minh cho việc xây dựng các đế quốc thuộc địa châu Âu và chủ nghĩa đế quốc Mỹ thông qua việc thu hồi bất công đất đai, con người và tài nguyên trên khắp thế giới. Ngày nay, một số hình thức tư tưởng phân biệt chủng tộc phổ biến bao gồm niềm tin rằng phụ nữ Da đen là lăng nhăng tình dục, phụ nữ Latina là "bốc lửa" hoặc "nóng tính", và đàn ông và trẻ em trai da đen có khuynh hướng tội phạm. Hình thức phân biệt chủng tộc này có tác động tiêu cực đối với người da màu nói chung vì nó có tác dụng ngăn cản họ tiếp cận và / hoặc thành công trong giáo dục và thế giới nghề nghiệp, đồng thời khiến họ bị cảnh sát tăng cường giám sát , quấy rối và bạo lực , cùng những tiêu cực khác kết quả. Phân biệt chủng tộc rõ ràng Sự phân biệt chủng tộc thường được diễn đạt bằng ngôn ngữ, trong “diễn ngôn” mà chúng ta dùng để nói về thế giới và con người trong đó. Loại phân biệt chủng tộc này được thể hiện dưới dạng những lời nói tục tĩu về chủng tộc và lời nói căm thù , nhưng cũng là những từ mã có ý nghĩa phân biệt chủng tộc được gắn trong chúng, như “ghetto”, “côn đồ” hoặc “gangsta.” Cũng giống như chủ nghĩa phân biệt chủng tộc mang tính đại diện truyền đạt các ý tưởng phân biệt chủng tộc thông qua hình ảnh, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc không rõ ràng truyền đạt chúng thông qua các từ thực tế mà chúng ta sử dụng để mô tả con người và địa điểm. Việc sử dụng các từ dựa trên sự khác biệt về chủng tộc khuôn mẫu để truyền đạt thứ bậc rõ ràng hoặc ngầm hiểu sẽ làm duy trì sự bất bình đẳng phân biệt chủng tộc tồn tại trong xã hội. Phân biệt chủng tộc tương tác Phân biệt chủng tộc thường có dạng tương tác, có nghĩa là nó được thể hiện qua cách chúng ta tương tác với nhau. Ví dụ, một phụ nữ Da trắng hoặc Châu Á đi bộ trên vỉa hè có thể băng qua đường để tránh bị một người đàn ông Da đen hoặc La tinh đi sát bởi vì cô ấy có thành kiến ngầm coi những người đàn ông này là mối đe dọa tiềm tàng. Khi một người da màu bị tấn công bằng lời nói hoặc thể chất vì chủng tộc của họ, đây là hành vi phân biệt chủng tộc tương tác. Khi một người hàng xóm gọi cảnh sát để báo cáo đột nhập vì họ không nhận ra hàng xóm Da đen của họ, hoặc khi ai đó tự động cho rằng một người da màu là nhân viên cấp thấp hoặc trợ lý, mặc dù họ có thể là quản lý, điều hành, hoặc chủ sở hữu của một doanh nghiệp, đây là phân biệt chủng tộc tương tác. Ghét tội áclà biểu hiện cực đoan nhất của hình thức phân biệt chủng tộc này. Phân biệt chủng tộc tương tác gây ra căng thẳng, lo lắng và tổn hại về tinh thần và thể chất đối với người da màu hàng ngày. Thể chế phân biệt chủng tộc Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc hình thành thể chế theo cách mà các chính sách và luật pháp được xây dựng và áp dụng vào thực tiễn thông qua các thể chế của xã hội, chẳng hạn như bộ chính sách pháp luật và chính sách kéo dài hàng thập kỷ được gọi là “Cuộc chiến chống ma túy”, nhắm mục tiêu không cân xứng đến các khu dân cư và cộng đồng chủ yếu là người da màu. Các ví dụ khác bao gồm chính sách Stop-N-Frisk của Thành phố New York nhắm mục tiêu áp đảo đến nam giới Da đen và Latinh, thông lệ giữa các đại lý bất động sản và những người cho vay thế chấp không cho phép người da màu sở hữu tài sản trong một số khu vực lân cận và buộc họ phải chấp nhận thế chấp ít mong muốn hơn tỷ lệ và chính sách theo dõi giáo dục đưa trẻ em da màu vào các lớp học phụ đạo và các chương trình dạy nghề. Thể chế phân biệt chủng tộc bảo tồn và thúc đẩy khoảng cách chủng tộc về sự giàu có, giáo dục và địa vị xã hội, và phục vụ để duy trì quyền tối cao và đặc quyền của người da trắng . Cơ cấu phân biệt chủng tộc Phân biệt chủng tộc theo cấu trúc đề cập đến sự tái tạo liên tục, lịch sử và lâu dài cấu trúc phân biệt chủng tộc của xã hội chúng ta thông qua sự kết hợp của tất cả các hình thức trên. Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc có cấu trúc thể hiện ở sự phân biệt chủng tộc và phân tầng trên cơ sở giáo dục, thu nhập và sự giàu có, sự di dời thường xuyên của người da màu từ các khu vực lân cận trải qua quá trình thị tộc hóa và gánh nặng ô nhiễm môi trường do người da màu gánh chịu. sự gần gũi với cộng đồng của họ. Phân biệt chủng tộc có cấu trúc dẫn đến bất bình đẳng trên quy mô lớn, toàn xã hội trên cơ sở chủng tộc. Phân biệt chủng tộc có hệ thống Nhiều nhà xã hội học mô tả phân biệt chủng tộc ở Mỹ là " có hệ thống " bởi vì đất nước này được thành lập dựa trên niềm tin phân biệt chủng tộc đã tạo ra các chính sách và thực tiễn phân biệt chủng tộc, và vì di sản đó tồn tại ngày nay trong sự phân biệt chủng tộc tồn tại trong toàn bộ hệ thống xã hội của chúng ta. Điều này có nghĩa là chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đã được hình thành từ chính nền tảng của xã hội chúng ta, và do đó, nó đã ảnh hưởng đến sự phát triển của các thể chế xã hội, luật pháp, chính sách, niềm tin, đại diện truyền thông, các hành vi và tương tác, cùng nhiều thứ khác. Theo định nghĩa này, bản thân hệ thống đã mang tính phân biệt chủng tộc, vì vậy để giải quyết hiệu quả nạn phân biệt chủng tộc đòi hỏi một cách tiếp cận toàn hệ thống mà không để lại bất kỳ điều gì chưa được khám phá. Phân biệt chủng tộc ở Sum Các nhà xã hội học quan sát thấy nhiều kiểu hoặc kiểu phân biệt chủng tộc trong bảy dạng khác nhau này. Một số người có thể phân biệt chủng tộc rõ ràng, như sử dụng những lời nói tục tĩu về chủng tộc hoặc lời nói căm thù hoặc các chính sách cố ý phân biệt đối xử chống lại mọi người trên cơ sở chủng tộc. Những người khác có thể được giấu kín, giữ kín bản thân, bị che khuất khỏi tầm nhìn của công chúng hoặc bị che khuất bởi các chính sách mù màu có mục đích trung lập về chủng tộc , mặc dù chúng có tác động phân biệt chủng tộc. Mặc dù cái gì đó thoạt nhìn có thể không rõ ràng là phân biệt chủng tộc, nhưng trên thực tế, nó có thể chứng minh là phân biệt chủng tộc khi người ta xem xét tác động của nó qua lăng kính xã hội học. Nếu nó dựa trên những quan niệm khuôn mẫu về chủng tộc và tái tạo một xã hội có cấu trúc chủng tộc, thì nó là phân biệt chủng tộc. Do tính chất nhạy cảm của chủng tộc là một chủ đề bàn tán trong xã hội Mỹ, một số người đã nghĩ rằng chỉ cần chú ý đến chủng tộc, xác định hoặc mô tả một người nào đó sử dụng chủng tộc là phân biệt chủng tộc. Các nhà xã hội học không đồng ý với điều này. Trên thực tế, nhiều nhà xã hội học, học giả về chủng tộc và các nhà hoạt động chống phân biệt chủng tộc nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thừa nhận và xác định chủng tộc và phân biệt chủng tộc là cần thiết trong việc theo đuổi công bằng xã hội, kinh tế và chính trị.
Người đã kiên trì cuộc hành trình trong gần một thập kỷ để trực tiếp khảo sát, nghiên cứu tình hình xã hội của các dân tộc, chủng tộc và thực tiễn ở những nước có các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới nhằm làm giàu văn hóa, nâng cao trí tuệ, mở rộng tầm nhìn. Phương pháp đúng ấy đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh đi từ dân tộc đến với nhân loại, từ đó chọn lọc và tiếp thu tinh hoa văn hóa-văn minh của nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra nguồn gốc trực tiếp nỗi thống khổ chung của các dân tộc thuộc địa, của những người lao động và nhận thấy nhu cầu về quyền dân tộc và quyền con người là khát vọng chung của các dân tộc bị áp bức và nhân dân cần lao trên toàn thế giới. Cùng với sự phê phán tính chất “không đến nơi” của cách mạng tư sản trong Đường kách mệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã ghi nhận những lời bất hủ, không thể chối cãi được về quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp trong Tuyên ngôn độc lập. Người cũng trực tiếp nghiên cứu, khảo sát công cuộc xây dựng xã hội mới ở Liên Xô 1923-1924, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở nước lớn nhất phương Đông là Trung Quốc 1925-1927... để rút ra những điều cần thiết cho việc hoạch định con đường riêng của dân tộc. Với tầm trí tuệ không ngừng được làm giàu bằng tinh hoa văn hóa nhân loại và hoạt động thực tiễn phong phú đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn và sử dụng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin để nhận thức được quy luật tiến hóa, xu thế phát triển của loài người. Người đi tới khẳng định “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Người chỉ rõ “cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”. Con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra cho dân tộc ta, thực chất là giành độc lập dân tộc phải đưa tới tự do và hạnh phúc cho con người Việt Nam. Con đường đó cũng phù hợp với nguyện vọng chung của các dân tộc và xu thế phát triển của loài người, hàm chứa sâu sắc các nội dung dân tộc-nhân loại và thời đại. Thuận theo quy luật tiến hóa, đáp ứng được nhu cầu giải phóng, phát triển của dân tộc và nhân loại tiến bộ, từ trong đường lối mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm ra, cách mạng Việt Nam đã hội đủ các yếu tố thiên thời-địa lợi-nhân hòa bảo đảm cho sự thắng lợi. Đi ra nước ngoài tìm được con đường cho cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là công lao vĩ đại, cống hiến lý luận sáng tạo hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và là di sản có giá trị vĩnh hằng đối với dân tộc Việt Nam. Có thể coi ngày 5/6/1911 là mở đầu tiến trình hội nhập quốc tế mà Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì và sáng tạo học tập, nghiên cứu, lựa chọn, tiếp nhận, vận dụng và phát triển các giá trị tinh hoa văn hóa-văn minh nhân loại nhằm tìm ra con đường đi lên cho dân tộc. Nhưng giá trị sâu sắc của con đường ấy còn ở chỗ nó không chỉ nhằm mục tiêu giải phóng và đem lại tự do và hạnh phúc cho con người Việt Nam mà còn góp phần cùng các dân tộc đấu tranh loại trừ chiến tranh và chủ nghĩa thực dân, thúc đẩy sự phát triển của lịch sử loài người. Cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nghiệp văn hóa-văn minh, trong đó kết hợp chặt chẽ giữa mục tiêu giải phóng với phát triển và hoàn thiện con người. Sự sâu sắc, giá trị cao cả của cuộc cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn dắt, thực hiện ở nước ta là ở chỗ làm cho con người Việt Nam tự đứng lên giải phóng bằng chính sự phát triển và hoàn thiện của mình. Lấy thống nhất thay vì loại trừ và bằng sự giác ngộ để đoàn kết toàn dân nhằm đem sức ta giải phóng cho ta, không ngừng phát triển văn hóa làm cho nhân dân đồng thuận, tự lực, tự cường trong tranh đấu giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới là đường lối và cũng là phương pháp cách mạng mang đậm tính văn hóa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo thực hiện ở Việt Nam. Giải phóng dân tộc, giải phóng con người bằng sự phát triển và hoàn thiện con người là căn nguyên làm nên những thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong lịch sử hiện đại. Trong mọi hoàn cảnh lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chủ trương nâng cao dân trí, phát triển văn hóa, nhân cách cho toàn dân đi đôi với mở cửa tiếp thu văn hóa-văn minh nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi đội ngũ lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam phải “là đạo đức, là văn minh”. Cũng chính vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức là gốc của người cách mạng và Người là một tấm gương ngời sáng về đạo đức, văn minh. Ngày 5/6/1911, không chỉ đánh dấu sự khởi đầu của quá trình đi ra thế giới tìm đường cứu nước, cứu dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn là sự kiện mở ra tiến trình Việt Nam từng bước hội nhập với thế giới. Trong quá trình đó, trên cơ sở tiếp nhận những giá trị văn hóa-văn minh nhân loại và nắm bắt được xu thế phát triển của loài người trong thời đại mới, thông qua con đường cách mạng mà Người đã lựa chọn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết hợp thành công sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, dân tộc với quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp cả lực, thế, thời đưa tới những thắng lợi lịch sử của dân tộc Việt Nam trong hơn một thế kỷ qua và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại xóa bỏ chủ nghĩa thực dân, thúc đẩy lịch sử loài người tiến lên theo hướng tiến bộ. Kiên trì con đường cách mạng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra không chỉ là kiên trì mục tiêu con người Việt Nam phải được sống trong không gian sinh tồn Độc lập của dân tộc mình mà còn phải được tự do-hạnh phúc trong một xã hội tiến bộ, văn minh của chủ nghĩa xã hội. Kiên trì con đường với mục tiêu đó cũng chính là giữ vững những nhân tố thiên thời-địa lợi-nhân hòa, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong điều kiện mới để đất nước có lực, thế, thời mới tiếp tục tiến bước mạnh mẽ nhằm hoàn thiện những mục tiêu vì dân tộc, vì con người Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội. Với các giá trị đó, sự kiện lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và con đường cách mạng mà người đem lại cho dân tộc càng có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Kiên trì con đường cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, với đường lối đổi mới của Đảng, sự hội nhập quốc tế của Việt Nam cũng là tiếp tục quá trình dân tộc ta đi ra thế giới trong điều kiện lịch sử mới nhằm tiếp nhận các giá trị văn hóa-văn minh nhân loại, nắm bắt xu thế phát triển của thời đại để tiến hành thắng lợi công cuộc xây dựng đất nước phồn vinh và hạnh phúc cho dân tộc và con người Việt Nam. Chúng ta không chỉ nắm vững thế giới quan, phương pháp Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình đi tìm đường cứu nước, mà còn phải nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới và sáng tạo của Người để xây dựng đường lối và chỉ đạo thực tiễn phù hợp với sự vận động của tình hình đất nước và quan hệ quốc tế mới. Chỉ có như vậy mới giải quyết tốt các mối quan hệ dân tộc-giai cấp, quốc gia-quốc tế, dân tộc-thời đại, phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với thời đại, liên tục tạo lập lực-thế-thời mới mạnh mẽ để đưa đất nước phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi các mục tiêu vì dân tộc và con người của chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Lý thuyết chủng tộc phê phán CRT là một trường phái tư tưởng nhằm nhấn mạnh tác động của chủng tộc đối với vị thế xã hội của một người. Nó nảy sinh như một thách thức đối với ý tưởng rằng trong hai thập kỷ kể từ khi Phong trào Dân quyền và các đạo luật liên quan, bất bình đẳng chủng tộc đã được giải quyết và hành động khẳng định không còn cần thiết nữa. CRT tiếp tục là một cơ quan có ảnh hưởng về văn học pháp lý và học thuật đã mở đường cho các bài viết phi học thuật, công khai hơn. Những bài học rút ra chính Lý thuyết cuộc đua quan trọng Lý thuyết phân biệt chủng tộc là một phản ứng của các học giả pháp lý đối với ý tưởng rằng Hoa Kỳ đã trở thành một xã hội mù màu, nơi bất bình đẳng / phân biệt chủng tộc không còn có hiệu lực. Trong khi "chủng tộc" theo quan niệm là một công trình xây dựng xã hội và không bắt nguồn từ sinh học, nó đã có những tác động thực sự, hữu hình đối với người Da đen và những người da màu khác về nguồn lực kinh tế, cơ hội giáo dục và nghề nghiệp, và kinh nghiệm với hệ thống pháp luật. Lý thuyết chủng tộc quan trọng đã truyền cảm hứng cho nhiều lĩnh vực phụ khác, chẳng hạn như "LatCrit", "AsianCrit", "queer crit" và các nghiên cứu phê bình về độ trắng. Định nghĩa và nguồn gốc của lý thuyết chủng tộc quan trọng Được đặt ra bởi học giả pháp lý Kimberlé Crenshaw vào cuối những năm 1980, thuật ngữ "lý thuyết chủng tộc quan trọng" lần đầu tiên nổi lên như một thách thức đối với ý tưởng rằng Hoa Kỳ đã trở thành một xã hội "mù màu" nơi bản sắc chủng tộc của một người không còn ảnh hưởng đến một người. địa vị xã hội hoặc kinh tế. Chỉ hai thập kỷ sau những thành tựu của Phong trào Dân quyền, nhiều chính trị gia và tổ chức đã đồng ý chọn ngôn ngữ mù màu đầy khát vọng của Martin Luther King, Jr. — tức là ý tưởng rằng chúng ta nên đánh giá ai đó dựa trên nội dung tính cách của người đó. chứ không phải màu da của ông ấy — đồng thời bỏ qua các khía cạnh quan trọng hơn trong các bài phát biểu của ông ấy nhấn mạnh sự phân biệt đối xử và bất bình đẳng kinh tế. Cũng bắt đầu có những cuộc tấn công vào các chính sách hành động khẳng định, với các chính trị gia bảo thủ cho rằng chúng không còn cần thiết nữa. CRT với tư cách là một trường phái tư tưởng được thiết kế để làm nổi bật những cách thức được cho là luật mù màu đã cho phép sự áp bức chủng tộc và bất bình đẳng tiếp tục xảy ra bất chấp việc phân biệt đối xử được đặt ra ngoài vòng pháp luật. CRT bắt nguồn từ các học giả pháp lý như Derrick Bell, Kimberlé Crenshaw và Richard Delgado, những người lập luận rằng phân biệt chủng tộc và quyền tối cao của người da trắng là yếu tố xác định các yếu tố của hệ thống pháp luật Mỹ - và xã hội Mỹ có quy mô lớn - mặc dù ngôn ngữ liên quan đến "bảo vệ bình đẳng". Những người ủng hộ ban đầu lập luận về một phân tích theo ngữ cảnh, được lịch sử hóa về luật sẽ thách thức các khái niệm có vẻ trung lập như chế độ công đức và tính khách quan, trong thực tế, có xu hướng củng cố quyền tối cao của người da trắng. Cuộc chiến chống lại sự áp bức của người da màu là mục tiêu chính của các nhà lý thuyết về chủng tộc phê phán ban đầu; nói cách khác, họ đã tìm cách thay đổi hiện trạng chứ không chỉ phê phán nó. Cuối cùng, CRT mang tính liên ngành, dựa trên một loạt các hệ tư tưởng học thuật, bao gồm chủ nghĩa nữ quyền, chủ nghĩa Mác ., và chủ nghĩa hậu hiện đại. Derrick Bell thường được coi là cha đẻ của CRT. Ông đã có những đóng góp lý luận quan trọng, chẳng hạn như lập luận rằng vụ kiện nhân quyền mang tính bước ngoặt Brown kiện Hội đồng Giáo dục là kết quả của tư lợi của những người da trắng ưu tú thay vì mong muốn tách biệt trường học và cải thiện giáo dục cho trẻ em da đen. Tuy nhiên, Bell cũng chỉ trích bản thân lĩnh vực luật, nhấn mạnh các phương pháp loại trừ tại các trường ưu tú như Trường Luật Harvard, nơi ông đang giảng dạy. Ông thậm chí đã từ chức để phản đối việc Harvard không tuyển phụ nữ da màu làm giảng viên. Những nhân vật quan trọng ban đầu khác là Alan Freeman và Richard Delgado . Những người ủng hộ nữ quyền da đen là những người ủng hộ CRT có ảnh hưởng đặc biệt. Ngoài tên của lĩnh vực này, Crenshaw thậm chí còn nổi tiếng hơn khi đặt ra thuật ngữ hiện đang rất thời thượng "tính giao thoa ", có nghĩa là để làm nổi bật các hệ thống áp bức chồng chéo và đa dạng đối với phụ nữ da màu ngoài những người đồng tính da màu, người da màu nhập cư, khuôn mặt khiến trải nghiệm của họ khác với của phụ nữ da trắng. Patricia Williams và Angela Harris cũng đã có những đóng góp quan trọng cho CRT. Chạy đua như một cấu trúc xã hội Khái niệm rằng chủng tộc là một cấu trúc xã hội về cơ bản có nghĩa là chủng tộc không có cơ sở khoa học hoặc thực tế sinh học. Thay vào đó, chủng tộc như một cách để phân biệt loài người là một khái niệm xã hội, một sản phẩm của tư tưởng con người, có thứ bậc bẩm sinh. Tất nhiên, điều này không có nghĩa là không có sự khác biệt về thể chất hoặc kiểu hình giữa những người đến từ các khu vực khác nhau trên thế giới. Tuy nhiên, những khác biệt này chỉ tạo nên một phần nhỏ khả năng di truyền của chúng ta và không cho chúng ta biết bất cứ điều gì về trí thông minh, hành vi hoặc năng lực đạo đức của một người. Nói cách khác, không có hành vi hay tính cách nào vốn có đối với người da trắng, da đen hay người châu Á. Trong lý thuyết cuộc đua tới hạn Giới thiệu, Richard Delgado và Jean Stefancic phát biểu, "Việc xã hội thường xuyên chọn cách phớt lờ những sự thật khoa học này, tạo ra các chủng tộc và tạo cho chúng những đặc điểm giả vĩnh viễn là mối quan tâm lớn đối với lý thuyết chủng tộc phê phán." Mặc dù chủng tộc là một cấu trúc xã hội, nhưng điều này không có nghĩa là nó không có tác động thực sự, hữu hình đối với con người. Tác động của quan niệm trái ngược với thực tế về chủng tộc là người Da đen, Châu Á và Bản địa trong nhiều thế kỷ được cho là kém thông minh và lý trí hơn người da trắng. Những ý tưởng về sự khác biệt chủng tộc đã được người châu Âu sử dụng trong thời kỳ thuộc địa để khuất phục những người không phải da trắng và buộc họ vào những vai phụ. Khái niệm chủng tộc được xây dựng trên phương diện xã hội, vốn được sử dụng để thực hiện và củng cố quyền tối cao của người da trắng, là xương sống của pháp luật Jim Crow ở miền Nam, dựa trên quy tắc một giọtđể phân biệt mọi người theo chủng tộc. Cuộc đua như một ý tưởng tiếp tục có nhiều tác động đối với kết quả giáo dục, tư pháp hình sự và trong các tổ chức khác. Các ứng dụng của lý thuyết cuộc đua tới hạn CRT đã được mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác nhau trong và ngoài luật. Hai nhánh là Lý thuyết phê bình Latina / o — mà các học giả hàng đầu bao gồm Francisco Valdes và Elizabeth Iglesias — và "AsianCrit", mà những người đề xướng bao gồm Mari Matsuda và Robert S. Chang . " LatCrit " nói riêng chủ yếu dựa vào lý thuyết đồng tính và nữ quyền, và cả hai biến thể này đều giải quyết các vấn đề liên quan đến dân số Latinh và châu Á ở Mỹ, chẳng hạn như rào cản về nhập cư và ngôn ngữ. Theo cách này, CRT có nhiều điểm trùng lặp và thường là đặc điểm nổi bật của các chương trình Nghiên cứu Dân tộc ở nhiều trường cao đẳng và đại học. Các học giả CRT cũng đã chuyển sự chú ý của họ đến sự phê phán về tính trắng, cách nó được xây dựng về mặt xã hội trái ngược với tiêu chuẩn mà tất cả các nhóm khác cần được đo lường, và cách định nghĩa của nó đã mở rộng hoặc thu hẹp trong lịch sử. Ví dụ, các nhóm người châu Âu khác nhau - chẳng hạn như người nhập cư Ailen và Do Thái - ban đầu bị phân biệt chủng tộc là không phải người da trắng khi họ bắt đầu đến Hoa Kỳ với số lượng lớn. Những nhóm này cuối cùng đã có thể hòa nhập vào người da trắng hoặc "trở thành" người da trắng, phần lớn bằng cách xa rời người Mỹ gốc Phi và chấp nhận thái độ phân biệt chủng tộc của dòng chính Anglo đối với họ. Các học giả như David Roediger, Ian Haney López và George Lipsitz đều đã đóng góp học bổng quan trọng cho các nghiên cứu quan trọng về độ trắng. Các lĩnh vực phụ của CRT tập trung vào bản dạng giới và xu hướng tình dục cũng đã xuất hiện trong những thập kỷ gần đây. Một số học giả quan trọng nhất kết hợp CRT với lý thuyết nữ quyền được giới thiệu trong tuyển tập Critical Race Feminism A Reader . Rõ ràng là có nhiều điểm trùng lặp giữa chủ nghĩa nữ quyền chủng tộc quan trọng và tính phân biệt chủng tộc, vì cả hai đều tập trung vào sự chồng chéo và nhiều bên lề của phụ nữ da màu. Tương tự như vậy "kỳ lạ", theo lý thuyết của các học giả như Mitsunori Misawa , kiểm tra các điểm giao nhau của bản sắc không phải người da trắng và sự kỳ lạ. Ngoài lĩnh vực pháp lý, giáo dục là nơi CRT có tác động lớn nhất, đặc biệt là về cách thức giao thoa giữa chủng tộc và thường là giai cấp để tạo ra kết quả tồi tệ hơn cho học sinh Da đen và Latinh. CRT cũng đã trở thành một hệ tư tưởng có ảnh hưởng lớn hơn trong thiên niên kỷ mới khi các học giả da màu, những người đề xướng đầu tiên của nó đã được làm việc tại các trường luật lớn của Mỹ. Phê bình Crenshaw trong Valdes và cộng sự, 2002 và Delgado và Stefancic 2012 trình bày chi tiết về sự phản đối CRT trong những năm 1990, chủ yếu là từ những người phản đối tân bảo thủ về hành động khẳng định, những người coi các học giả CRT là những người cực đoan cánh tả, và thậm chí cáo buộc họ chống đối Chủ nghĩa Do Thái. Các nhà phê bình cảm thấy "phong trào kể chuyện hợp pháp", một cách tiếp cận tập trung vào những câu chuyện của người da màu và được các học giả luật CRT sử dụng để thách thức những câu chuyện thống trị, không phải là một phương pháp phân tích chặt chẽ. Những nhà phê bình này cũng phản đối quan điểm cho rằng người da màu hiểu biết nhiều hơn về trải nghiệm của chính họ và do đó, được trang bị tốt hơn để đại diện cho họ hơn là các nhà văn da trắng. Cuối cùng, những người chỉ trích CRT đã nghi ngờ xu hướng của phong trào đặt câu hỏi về sự tồn tại của một "sự thật khách quan". Ý niệm như sự thật, khách quan, Nguồn Crenshaw, Kimberlé, Neil Gotanda, Gary Peller và Kendall Thomas, biên tập viên. Thuyết Chủng tộc Trọng yếu Các Tác phẩm Chính đã Hình thành Phong trào . New York Báo chí Mới, 1995. Delgado, Richard và Jean Stefancic, biên tập viên. Lý thuyết cuộc đua tới hạn Giới thiệu, xuất bản lần thứ 2. New York Nhà xuất bản Đại học New York, 2012. Hill-Collins, Patricia và John Solomos, biên tập viên. Sổ tay Nghiên cứu Chủng tộc và Dân tộc của SAGE. Thousand Oaks, CA Sage Publications, 2010. Valdes, Francisco, Jerome McCristal Culp, và Angela P. Harris, biên tập viên. Ngã tư, chỉ đường và một lý thuyết cuộc đua quan trọng mới. Philadelphia Nhà xuất bản Đại học Temple, 2002.
Phân biệt chủng tộc là một hiện tượng đa chiều dẫn đến loại trừ và hạn chế trong việc tiếp cận các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống công cộng của một người hoặc một nhóm người, vì lý do dựa trên màu sắc hoặc nguồn gốc quốc gia hoặc dân tộc. José Martín 2003 nói với chúng ta rằng, mặc dù các chủng tộc không tồn tại về mặt sinh học, phân biệt chủng tộc như một ý thức hệ. Và đối với điều này, một quá trình dài đã phải diễn ra trong đó lịch sử và sản xuất tri thức khoa học đã trộn lẫn và tác động đến các hình thức tổ chức xã hội khác nhau. Đó là lý do tại sao phân biệt chủng tộc cũng đã được cài đặt như một cách để biết thế giới và liên quan. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ làm một đánh giá ngắn gọn về khái niệm phân biệt chủng tộc khoa học, được hiểu là một quá trình phải làm, một mặt, với cách khoa học đã tham gia vào việc sản xuất và tái sản xuất phân biệt chủng tộc, mặt khác, nó phải làm với các thực tiễn khoa học bị vượt qua bởi những thành kiến chủng tộc. Nói cách khác, chúng tôi đề cập đến cả cách khoa học tạo ra phân biệt chủng tộc và quá trình phân biệt chủng tộc đã tạo ra khoa học. Bài viết liên quan "Định kiến, định kiến và phân biệt đối xử tại sao chúng ta nên tránh định kiến?" Phân biệt chủng tộc ở đâu? Khi chúng ta nói về phân biệt chủng tộc, chúng ta có xu hướng rơi vào khuynh hướng phân biệt chủng tộc, và ngay lập tức chúng ta nghĩ rằng đó là một vấn đề mà sự tồn tại và định nghĩa của họ xảy ra ở Bắc Mỹ hoặc Nam Phi, và chúng ta quên hoặc thậm chí từ chối các quá trình phân biệt chủng tộc từ những nơi khác, ví dụ, ở Mỹ Latinh , ở một số nơi ở Châu Âu hoặc ở chúng ta và chính chúng ta. Không chỉ các quá trình này bị từ chối, mà các yếu tố lịch sử và văn hóa xã hội đã làm cho chúng nổi lên cũng bị ẩn giấu. Kết quả là, các nguyên nhân thực sự tạo ra các hiện tượng liên quan đến sự bất bình đẳng như kinh tế, chính trị hoặc xã hội, vì lợi ích của việc giải thích được đưa ra trực tiếp hoặc gián tiếp bởi các giai cấp thống trị bị bãi bỏ hoặc giải thích sai.. Nếu chúng ta thực hiện một cuộc hành trình với một viễn cảnh lịch sử, điều đó đặt trong mối quan hệ các biến đổi xã hội, chính trị và kinh tế khác nhau, Chúng ta có thể nghĩ rằng phân biệt chủng tộc là một hiện tượng cấu trúc và lịch sử. Điều đó có nghĩa là, nó là một hệ thống các yếu tố được phân phối theo một cách xác định để phân định chức năng và các bộ phận của tổng thể; và điều đó đã được thiết lập dựa trên quỹ đạo cụ thể. Trong cấu trúc xã hội và các mối quan hệ giữa các cá nhân Là một hiện tượng cấu trúc, phân biệt chủng tộc được chuyển thành các dạng của mối quan hệ xã hội và văn hóa, qua trung gian là phân biệt đối xử và phụ thuộc lẫn nhau, dựa trên sự khác biệt được cho là cố định về khả năng và cơ hội vì lý do sinh học hoặc văn hóa xã hội của chính nhóm cấp dưới. Sự khác biệt cũng nói lên và tái tạo khuôn mẫu, không chỉ về chủng tộc, mà cả về đẳng cấp và giới tính. Đó là, chúng cho phép chúng ta gợi lên những hình ảnh nhất định liên quan đến một số từ nhất định chứ không phải với những từ khác, liên quan đến những người chúng ta được dạy là "thấp kém", "nguyên thủy", "yếu đuối" hoặc "mạnh mẽ", "văn minh" "," Cấp trên ". Nói cách khác, chúng tôi liên kết một số hành vi nhất định với một số người hoặc nhóm người nhất định chứ không phải với những người khác; trong đó cũng cung cấp một khung nhận dạng và các mối quan hệ. Có thể bạn quan tâm "Ngôn ngữ như một điểm đánh dấu sức mạnh" Nó đến từ đâu? Thay đổi và chủ nghĩa thực dân Các nhóm phân biệt chủng tộc thường được cụ thể hóa vì lợi ích của những người bảo vệ sự khác biệt từ sự thấp kém được cho là ưu việt, và theo nghĩa này, bị tước bỏ tư cách là "người" và được hiểu theo nghĩa xa. Trên cơ sở của tất cả những điều này có một niềm tin và thực hành cơ bản sự tồn tại của một đơn vị nói ngắn gọn là người đàn ông da trắng trưởng thành từ đó các giá trị của cuộc sống được coi trọng và thậm chí là "kênh" những người khác ". Quá trình này được gọi là "thay đổi" và bao gồm việc đặt tên theo cách phân biệt đối kháng với một số người theo quan điểm bá quyền, dựa trên một ý tưởng nhất định về "chúng tôi". Vấn đề là khi được trình bày về sự khác biệt đối kháng với nhóm bá quyền, các nhóm "khác" cũng dễ dàng "thống nhất", và cách sống của họ dễ dàng bị gạt bỏ hoặc thay thế bởi những người được coi là "tốt hơn". Vì lý do đó, phân biệt chủng tộc liên quan trực tiếp đến bạo lực. Bạo lực cũng là một trong những hằng số trong quá trình mở rộng lịch sử của lối sống phương Tây và phương thức sản xuất quyết tâm của họ. Vì vậy, trong nền tảng của phân biệt chủng tộc là sự mở rộng của thế giới quan và "lối sống phương Tây", nơi các hình thức liên lạc phân biệt chủng tộc được thiết lập và hợp pháp hóa. Trong trường hợp đó, phân biệt chủng tộc là một phần, không chỉ trong lịch sử xã hội của chúng ta, mà cả các hình thức sản xuất kinh tế và sáng tạo tri thức của họ.. Có thể bạn quan tâm "Chủ nghĩa phương Đông nó là gì và nó đã giúp thống trị một lục địa như thế nào" Phân biệt chủng tộc khoa học giữa kiến thức và ý thức hệ Vì diễn ngôn khoa học được định vị là một trong đó cung cấp cho chúng ta những câu trả lời đúng và hợp lệ về thế giới, và về bản thân chúng ta, kiến thức của họ đã dần được đặt trong nền tảng của nhiều lý thuyết, cũng như trong nền tảng của các lý thuyết khác nhau hình thức nhận dạng và mối quan hệ. Cụ thể trong việc tái sản xuất phân biệt chủng tộc, khoa học đã tham gia trực tiếp và gián tiếp thông qua những phát hiện được cho là tầm nhìn hợp pháp hóa được đánh dấu bởi những thành kiến chủng tộc vô hình. Segos đã được làm cho vô hình, trong số những thứ khác, bởi vì những người đã được công nhận là chủ thể có thẩm quyền để làm khoa học, họ chính xác là đàn ông da trắng và tây. Trong bối cảnh này, nghiên cứu xuất hiện vào thế kỷ 19 và đánh dấu sản xuất khoa học trong sinh học và lịch sử là các ngành khoa học đặc biệt quan trọng. Sau này từ sự phát triển của các lý thuyết tiến hóa, trong đó người ta cho rằng loài người đã thay đổi sau một quá trình di truyền và sinh học phức tạp, trong đó có thể một số người đã tiến hóa "nhiều hơn" hoặc "ít hơn" so với những người khác. Điều này cũng xác nhận nguyên tắc chọn lọc tự nhiên áp dụng cho con người, cùng với ý tưởng rằng giữa nhau có một cuộc cạnh tranh lâu dài để sinh tồn. Một loạt các cuộc biểu tình được cho là về sự tồn tại của hệ thống phân cấp chủng tộc trong loài người mở ra; các cuộc biểu tình sớm giải quyết trong tưởng tượng xã hội, cả ở cấp độ vi mô và chính trị vĩ mô. Nói cách khác, nó không chỉ ảnh hưởng đến cách chúng ta nghĩ về bản thân hàng ngày, cách chúng ta nhìn thấy "người khác" và loại cuộc sống nào là "mong muốn"; nhưng đó chúng cũng đã trở nên hữu hình trong các cuộc chiến tranh bành trướng thuộc địa, trong đó việc hủy diệt các liên kết thấp nhất của hệ thống phân cấp đã nói là hợp lý. Không chỉ vậy, nhưng sự xác nhận khoa học về sự thấp kém của chủng tộc cuối cùng đã có tác động trực tiếp đến các cách xây dựng và truyền đạt giáo dục chính quy, để tổ chức chính trị và hợp pháp tham gia xã hội, quản lý kinh tế và cơ hội cho mỗi nhóm, Xác định sinh học và hệ số trí tuệ Chủ nghĩa quyết định sinh học được định vị theo cách này như một triết lý xã hội. Và một trong những quy trình hiện đại nhất mà điều này trở nên hữu hình, là trong nghiên cứu về các đặc điểm trí tuệ bẩm sinh, dựa trên cấu trúc của Quotient Trí tuệ, được hiểu là một số có khả năng phân loại tuyến tính, mà cơ sở chủ yếu là di truyền và bất biến. Trong số những điều khác, điều này tác động đến việc giảm khả năng tham gia xã hội và bất bình đẳng về cơ hội cho những người nằm ngoài mức trung bình. Câu hỏi trong đó các thành kiến về giai cấp và giới tính cũng được đưa ra. Nó là như thế bởi vì chủ đề trắng phương tây đã được mô hình hóa theo lập luận của di truyền. Nhiều nghiên cứu cho thấy, ví dụ, dân số da đen có CI được cho là thấp hơn so với dân số da trắng. Trong các nghiên cứu này và theo lập luận của chủ nghĩa quyết định sinh học, các câu hỏi như sự khác biệt về cơ hội tồn tại của mỗi dân số trong bối cảnh chính trị xã hội cụ thể đã bị bỏ qua, và vì lý do đó, sự khác biệt không được coi là một vấn đề mang tính cấu trúc, mà như thể là một đặc điểm và bất biến của một nhóm người nhất định. Khoa học thực hành kiến thức và sức mạnh Menéndez 1972 nói về phân biệt chủng tộc khoa học về mối quan hệ lệch lạc giữa khoa học và hệ tư tưởng phân biệt chủng tộc, ngoài ra, nếu chúng ta theo Foucault, chúng ta có thể thấy rằng thực tiễn khoa học không chỉ là một thực hành "biết", mà là " sức mạnh ", có nghĩa là có ảnh hưởng trực tiếp đến những gì nó nghiên cứu và xác nhận. Điều này càng trở nên phức tạp hơn nếu chúng ta thêm nghịch lý sau mặc dù những tác động của nó là cụ thể và hữu hình, nhưng khoa học thường được phân chia giữa sản xuất tri thức trong các phòng thí nghiệm và các tạp chí chuyên ngành, và những gì xảy ra hàng ngày , trong thực tế xã hội. Từ việc nhận ra nghịch lý này, những thành kiến về chủng tộc trong sản xuất tri thức và hậu quả của chúng, đã được đặc biệt thừa nhận và chỉ trích sau Thế chiến thứ hai. Đó là đặc biệt khi sự hủy diệt xảy ra từ một nhóm châu Âu địa chính trị sang một nhóm châu Âu địa chính trị khác, dựa trên sự biện minh ưu việt sinh học. Tuy nhiên, mặc dù nhiều nhà khoa học cho biết rằng các lý thuyết được đánh dấu mạnh mẽ bởi sự thiên vị chủng tộc, trong nhiều trường hợp không có khả năng kiềm chế các mối quan hệ bạo lực đang được hợp pháp hóa. Nó là như thế bởi vì cuộc sống hàng ngày thoát khỏi khoa học nhiều lần, và giá trị chính trị của kết quả của các cuộc điều tra nghi vấn các định đề phân biệt chủng tộc đã giảm. Nói tóm lại, phân biệt chủng tộc như một hệ thống, ý thức hệ và hình thức của mối quan hệ cung cấp một tầm nhìn mạch lạc cho phương thức sản xuất cả kinh tế và tri thức trong đó hệ thống xã hội của chúng ta dựa trên cấp độ toàn cầu. Đó là một phần của quan niệm về thế giới nơi hợp lý bạo lực được kết hợp, và do đó, nó đưa ra một loạt các kế hoạch và kỹ thuật mà hoạt động khoa học không có sự tham gia nhỏ. Tài liệu tham khảo Grosfoguel, R. 2013. Phân biệt chủng tộc / chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, các trường đại học phương tây và bốn cuộc diệt chủng / epistemia trong thế kỷ XVI dài. Sánchez-Arteaga, Sepúlveda, C. và El-Hani, C. 2013. Phân biệt chủng tộc khoa học, quá trình thay đổi và giảng dạy khoa học. Tạp chí quốc tế về nghiên cứu giáo dục. 6 12 55-67. Tabula Rasa. 19 31-58. Sánchez-Arteaga, 2007. Lý trí mê sảng phân biệt chủng tộc khoa học trong nửa sau của thế kỷ XIX. Tạp chí của Hiệp hội Thần kinh học Tây Ban Nha. 27 112-126. Martín, J. 2003. "Các chủng tộc" về mặt sinh học không tồn tại, nhưng phân biệt chủng tộc, như một ý thức hệ. Tạp chí đối thoại giáo dục, 4 9 1-7. Jay, S. 1984. Các biện pháp sai lầm của con người. Grijalbo Barcelona. Menéndez, E. 1972. Phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa thực dân và bạo lực khoa học. Lấy ngày 25 tháng 6, năm 2018. Có sẵn trong = nội tuyến% 3B% 20filename% 3DRacismo_c
chủ nghĩa chủng tộc là phản khoa học